Tài liệu

Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc

Những quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc.

Vấn đề độc lập dân tộc

a. Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc

– Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa đến nay gắn liền với truyền thống yêu nước, đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Điều đó nói lên một khát khao to lớn của dân tộc ta là, luôn mong muốn có được một nền độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân và đó cũng là một giá trị tinh thần thiêng liêng, bất hủ của dân tộc mà Hồ Chí Minh là hiện thân cho tinh thần ấy.

– Căn cứ vào những quyền tự do, bình đẳng và quyền con người được ghi trong bản Tuyên ngôn Độc lập của cách mạng Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791.

– Hồ Chí Minh khẳng định về quyền dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

– Tư tưởng đó được thể hiện trong thực tiễn cách mạng Việt Nam:

Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng năm 1930, Hồ Chí Minh cũng đã xác định mục tiêu chính trị của Đảng là: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống Pháp 1946: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Người nêu cao chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Với tư tưởng đó, nhân dân Việt Nam đã anh dũng chiến đấu, đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, giành hòa bình, độc lập, thống nhất Tổ quốc.

b. Nội dung của độc lập dân tộc

– Độc lập dân tộc phải gắn với quyền tự quyết

Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải là độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để trên tất cả các lĩnh vực. Người nhấn mạnh: độc lập mà người dân không có quyền tự quyết về ngoại giao, không có quân đội riêng, không có nền tài chính riêng…. , thì độc lập đó chẳng có ý nghĩa gì.

– Độc lập dân tộc gắn liền với hòa bình, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ

Tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất Tổ quốc, toàn vẹn lãnh thổ là tư tưởng xuyên suốt, Hồ Chí Minh khẳng định: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”; “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”; “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”.

Độc lập dân tộc phải gắn liền tự do và hạnh phúc của nhân dân

Theo Hồ Chí Minh: “Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh yêu cầu: Chúng ta phải thực hiện ngay làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành.

Về cách mạng giải phóng dân tộc

a. Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản

– Rút ra bài học kinh nghiệm từ sự thất bại của những phong trào yêu nước theo con đường phong kiến, tư sản ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX:

Chứng kiến sự thát bại, bế tắc của các phong trào yêu nước, mặc dù rất khâm phục tinh thần yêu nước, tinh thần kiên cường bất khuất chống ngoại xâm của thế hệ cha anh nhưng Hồ Chí Minh đã không tán thành con đường, phương pháp đấu tranh đó. Người đã phê phán con đường của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hoảng Hoa Thám…từ đó nuôi dưỡng lòng yêu nước và ý chí, quyết tâm tìm kiếm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.

Hồ Chí Minh lực chọn đi sang phương Tây để tìm con đường mới, như Người đã nói: “Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”.

– Đánh giá các cuộc cách mạng trên thế giới:

Nhưng qua tìm hiểu thực tế thế giới, Người cho rằng: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa.”

Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã ảnh hưởng sâu sắc tới Hồ Chí Minh trong việc lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Người cho rằng: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật”.

– Năm 1920, sau khi đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, Hồ Chí Minh tìm thấy ở đó con đường cứu nước, giải phóng dân tộc:

Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Đây là con đường cách mạng triệt để nhất phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Học thuyết cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác- Lênin được Người vận dụng một cách sáng tạo trong điều kiện cách mạng Việt Nam.

– Xác định cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội:

Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng năm 1930, Hồ Chí Minh đã khẳng định phương hướng chiến lược cách mạng Việt Nam: làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Phương hướng này vừa phù hợp với xu thế phát triển của thời đại vừa hướng tới giải quyết một cách triệt để những yêu cầu khách quan, cụ thể mà cách mạng Việt Nam đặt ra vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

b. Cách mạng giải phóng dân tộc, trong điều kiện của Việt Nam, muốn thắng lợi phải do đảng cộng sản lãnh đạo

Hồ Chí Minh khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định sự thắng lợi của cách mạng

Chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ rõ: Đảng cộng sản là nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Giai cấp công nhân phải tổ chức ra chính đảng, đảng đó phải thuyết phục, giác ngộ và tập hợp đông đảo quần chúng, huấn luyện quần chúng và đưa quần chúng ra đấu tranh.

Hồ Chí Minh khẳng định vai trò to lớn của Đảng đối với cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Cách mạng trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, giống như người cầm lái có vững, thuyền mới chạy.

c. Cách mạng giải phóng dân tộc phải dựa trên lực lượng đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy liên minh công – nông làm nền tảng

Các nhà lý luận kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định rằng: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân; quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử.

Hồ Chí Minh khẳng định: “cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”; có dân là có tất cả, trên đời này không gì quý bằng dân, được lòng dân thì được tất cả, mất lòng dân thì mất tất cả. Người luôn quan niệm phải đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tất cả giai cấp, đảng phái, dân tộc, tôn giáo, mọi người Việt Nam yêu nước, phải tập hợp và đoàn kết toàn dân thì cách mạng mới thành công.

Trong khi xác định lực lượng cách mạng là toàn dân, Hồ Chí Minh lưu ý rằng, không được quên “công nông là chủ cách mệnh…là gốc cách mệnh”. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người giải thích: giai cấp công nhân và nông dân là hai giai cấp đông đảo và cách mạng nhất, bị bóc lột nặng nề nhất, vì thế “lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết…công nông là tay không chân rồi, nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan góc”.

d. Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động, sáng tạo, có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc

– Quan điểm của Quốc tế cộng sản:

Do chưa đánh giá hết tiềm lực và khả năng to lớn của cách mạng thuộc địa nên Quốc tế cộng sản có lúc xem nhẹ vai trò của cách mạng thuộc địa, coi cách mạng thuộc địa phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc: “Chỉ có thể thực hiện hoàn toàn công cuộc giải phóng các nước thuộc địa khi giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiên tiến”. Quan điểm này có tác động không tốt, làm giảm đi tính chủ động, sáng tạo của nhân dân các nước thuộc địa trong công cuộc đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giành độc lập cho dân tộc.

– Quan điểm của Hồ Chí Minh:

Chỉ rõ mối quan hệ khắng khít, tác động qua lại lẫn nhau giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc, là mối quan hệ bình đẳng, không lệ thuộc, phụ thuộc vào nhau. Người nói: “Vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa”.

Cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước. Người nói: “ Nan Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư bản Pháp yếu, Tư bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm cách mạng cũng dễ và nếu công nông Pháp làm cách mạng thành công thì dân tộc An Nam sẽ được tự do”

– Cơ sở để Hồ Chí Minh khẳng định cách mạng thuộc địa có thể giành thắng lợi trước cách mạng vô sản chính quốc vì:

+ Thấy rõ tầm quan trọng của thuộc địa đối với các nước đế quốc: Thuộc địa có một vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt đối với chủ nghĩa đế quốc, là nơi duy trì sự tồn tại, phát triển, là món mồi “béo bở” cho chủ nghĩa đế quốc.

Người cho rằng: “nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc”; nếu thờ ơ về vấn đề cách mạng ở thuộc địa thì như “đánh chết rắn đằng đuôi”; “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra”.Cho nên, cách mạng ở thuộc địa có vai trò rất lớn trong việc cùng với cách mạng vô sản ở chính quốc tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc.

+ Thấy rõ tiềm năng to lớn của cách mạng ở thuộc địa: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ”.Người viết: “Hỡi anh em ở các thuộc địa… Anh em phải làm thế nào để được giải phóng? Vận dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nổ lực của bản thân anh em”.

– Với thực tiễn thắng lợi năm 1945 ở Việt Nam cũng như phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đã thành công, trong khi cách mạng vô sản ở chính quốc chưa nổ ra và thắng lợi, đã chứng minh luận điểm trên của Hồ Chí Minh là độc đáo, sáng tạo, có giá trị lí luận và thực tiễn to lớn.

e. Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng phương pháp bạo lực cách mạng

– Tính tất yếu của phương pháp cách mạng bạo lực:

Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bạo lực cách mạng: Bạo lực là bà đỡ của một chế độ xã hội cũ đang thai nghén một chế độ mới; không có bạo lực cách mạng thì không thể thay thế nhà nước tư sản bằng nhà nước vô sản được.

Dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc. Chủ nghĩa thực dân đã dụng bạo lực phi nghĩa để xâm lược các nước thuộc địa,đàn áp dã man các phong trào yêu nước. Vậy nên, phải sử dụng phương pháp bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng đánh đổ thực dân,giành độc lập.

– Về hình thức bạo lực cách mạng:

Bạo lực cách mạng là bạo lực của quần chúng nhân dân, kết hợp lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, hai hình thức đấu tranh: đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang; chính trị và đấu tranh chính trị của quần chúng là cơ sở, nền tảng cho việc xây dựng lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang; đấu tranh vũ trang có ý nghĩa quyết định đối với việc tiêu diệt lực lượng quân sự và âm mưu thôn tính của thực dân đế quốc, đi đến kết thúc chiến tranh. Việc xác định hình thức đấu tranh phải căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà áp dụng cho thích hợp.

– Tư tưởng bạo lực cách mạng thống nhất biện chứng với quan điểm hòa bình nhân đạo:

Tranh thủ khả năng hòa bình, cố gắng tránh xung đột vũ trang, chủ động đàm phán giải quyết xung đột bằng hòa bình, phát động chiến trang là giải pháp cuối cùng khi có phương pháp nào khác. Người nói: Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng, nhưng càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa. Phát động kháng chiến bảo vệ hòa bình, độc lập với tinh thần thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ.

Rate this post

Hanoi1000

Là một người sống hơn 30 năm ở Hà Nội. Blog được tạo ra để chia sẻ đến mọi người tất cả mọi thứ về Hà Nội. Hy vọng blog sẽ được nhiều bạn đọc đón nhận.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button