Phật Pháp

Tiểu sử Hòa thượng Thích Thanh Từ ở chùa nào? Còn sống không? Bị bệnh gì?

Hòa thượng Thích Thanh Từ là một trong những bậc cao tăng vĩ đại, có sức ảnh hưởng lớn và những đóng góp vô tận cho nền Phật giáo nước nhà. Ngài đã có công trong việc phục hưng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử cũng như sáng lập ra rất nhiều thiền viện lớn nhỏ khắp cả nước.

Hòa thượng Thích Thanh Từ là ai?

đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ

Hòa thượng Thích Thanh Từ có thế danh là Trần Hữu Phước, ngài sinh ngày 24 tháng 7 năm 1924 tại ấp Tích Khánh, xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Cha của ngài là cụ ông Trần Văn Mão, mẹ là cụ bà Nguyễn Thị Đủ, ngài được sinh ra và lớn lên tại Việt Nam.

Thân phụ của Hòa thượng Thích Thanh Từ là cụ ông Trần Văn Mão, từ nhỏ đã theo nghiệp Nho, giữ nếp sống thanh bần, thanh cao, theo đạo Cao Ðài. Thân mẫu của ông là cụ bà Nguyễn Thị Ðủ, quê làng Thiện Mỹ, quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ, vốn là người hiền lành giản dị, suốt đời tần tảo sớm tối, hy sinh vì chồng vì con.

Hòa thượng Thích Thanh Từ tuy được sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh khó khăn nghèo khổ, thế nhưng ngài đã cực kỳ được chú ý với những nét riêng đặc biệt xuất hiện ngay từ khi còn thơ bé, đó là sự trầm mặc, ít nói, thích đọc sách, thích làm việc thiện, vô cùng hiếu thảo đối với cha mẹ của mình.

Vào năm ngài tròn 10 tuổi, nhân dịp theo cụ ông thân sinh lên Mốp Văn, Long Xuyên thọ tang người bác của gia đình, Hòa thượng Thích Thanh Từ đã được đến thăm chùa Sân Tiên trên núi Ba Thê lần đầu tiên để cúng cầu siêu cho bác. Nhờ căn duyên đó đã giúp ngài đã nảy sinh cái duyên đối với chốn cửa Phật. Ngài đã quyết định về làm công quả tại chùa Phật Quang sau này.

Ngày 15 tháng 7 năm 1949, sau 3 tháng làm công quả tại chùa Phật Quang, Hòa thượng Thích Thanh Từ đã được sư thầy Tổ Thiện Hoa chính thức cho xuất gia với pháp danh là Thanh Từ. Thế là ước nguyện của ngài nay đã được thực hiện. Từ đó, ngài đã siêng năng theo Tổ công phu bái sám, vừa học giáo lý, vừa dạy trẻ nhỏ những bài giảng Phật pháp. Ngoài ra ngài còn phụ trách trông nom và chăm sóc hàng chục chú tiểu nhỏ bé khác ở trong chùa.

Quá trình tu hành của Hòa thượng Thích Thanh Từ

đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ

Vào giai đoạn những năm 1949 – 1950, Hòa thượng Thích Thanh Từ theo học lớp Sơ đẳng năm thứ 3 tại Phật học đường Phật Quang. Đến năm 1951, ngài bắt đầu học lên Trung đẳng. Cũng trong năm này, chùa Phật Quang bị binh biến, Tổ Thiện Hoa phải dời tất cả tăng chúng lên chùa Phước Hậu, Hòa thượng Thích Thanh Từ cũng được theo và thọ giới Sa-di tại đây do Tổ Khánh Anh làm Hòa thượng đàn đầu.

Cho đến năm 1953, ngài đã theo Bổn sư là Tổ Thiện Hoa lên Sài Gòn, tiếp tục theo học lớp Trung đẳng tại Phật học đường Nam Việt chùa Ấn Quang. Tại đây, ngài được thọ giới cụ túc do Tổ Huệ Quang làm Hòa thượng đàn đầu. Từ những năm 1954 đến năm 1959, ngài đã theo học Cao đẳng Phật học tại Phật học đường Nam Việt.

Sau gần 10 năm trải qua Sơ đẳng, Trung đẳng, Cao đẳng Phật học, đoạn đường Tăng sinh kể như là đã hoàn tất, Hòa thượng Thích Thanh Từ bắt đầu bước sang thời kỳ hóa đạo. Ngài là một vị Giảng sư trong Giảng sư đoàn của ban Hoằng pháp, có uy tín khá lớn thời bấy giờ và được đông đảo chư Tăng ni, Phật tử xa gần yêu quý và tôn trọng.

Một số thành tựu của Hòa thượng Thích Thanh Từ đạt được

đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ

Từ năm 1960 đến năm 1964, Hòa thượng Thích Thanh Từ đã giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Phật giáo, có thể kể đến như: Phó Vụ trưởng Phật học vụ, Vụ trưởng Phật học vụ, Giáo sư kiêm Quản viện Phật học viện Huệ Nghiêm, Giảng sư Viện Ðại học Vạn Hạnh và các Phật học đường Dược Sư, Từ Nghiêm,…

Sau lễ mãn khóa Cao Trung chuyên khoa tại Huệ Nghiêm và Dược Sư, Hòa thượng Thích Thanh Từ đã xin phép Tổ Thiện Hoa được lùi về núi ở ẩn để tiếp tục tu hành. Khi này ngài đã thật sự giã từ chốn Phật học viện, giã từ phấn bảng với năm tháng miệt mài vì tứ chúng, thế nhưng hai tiếng “Tăng Ni” vẫn xoáy sâu vào lòng ngài, để sau này chút duyên “Thầy Trò” ấy lại gặp nhau và càng thêm son sắt trên đỉnh Tương Kỳ.

Tháng 4 năm 1966, Hòa thượng Thích Thanh Từ dựng Pháp Lạc thất trên núi Tương Kỳ, Vũng Tàu. Ngôi thất lá vuông vức bốn thước đơn sơ với bộ Ðại Tạng Kinh, thế nhưng đã ấp ủ một Thiền tăng nghèo quyết nhận lại cho kỳ được hạt châu vô giá của chính mình.

Rằm tháng tư năm Mậu Thân (1968), Hòa thượng Thích Thanh Từ tuyên bố nhập thất vô hạn định với lời kiên quyết: “Nếu đạo không sáng, thề không ra thất.” Thế là cửa sài đôi cánh khép, toàn thể môn nhân quy ngưỡng lên non một lòng mong đợi.

Tháng 7 năm 1968, ngài đã liễu đạt lý sắc không, thấu suốt thật tướng Bát-nhã. Từ con mắt Bát-nhã trông qua Tạng kinh, lời Phật, ý Tổ đã được khai thông. Giáo lý Ðại thừa và thâm ý nhà Thiền đã được Hòa thượng Thích Thanh Từ khám phá từ công phu thiền định của ngài.

Ngày 8 tháng 12 năm 1968, Hòa thượng Thích Thanh Từ tuyên bố ra thất giữa bao niềm hân hoan của Tăng Ni, Phật tử trên khắp cả nước. Nơi đây, đánh dấu một giai đoạn chuyển mình, một bước ngoặc lớn trong cuộc đời tu hành của vị Hòa thượng rất được yêu mến này. Để sau này Phật giáo Việt Nam vinh dự đón một ngôi sao sáng mở ra trang lịch sử Thiền sử Việt Nam rực rỡ huy hoàng nhất vào cuối thế kỷ 20.

Hòa Thượng Thích Thanh Từ bị bệnh gì? Còn sống không?

Tính đến ngày hôm nay, Hòa thượng Thích Thanh Từ vẫn đang còn sống khỏe mạnh. Mặc dù tuổi tác đã cao, thế nhưng ngài vẫn đang đi khắp thế giới để truyền bá tư tưởng Phật giáo và thành lập nhiều hơn nữa những thiền viện để làm nơi hướng dẫn tu hành cho những người yêu mến và muốn quy y cửa Phật, bất kể họ đến từ quốc gia nào, mang màu da nào đi chăng nữa.

Đại lão hòa thượng Thích Thanh Từ không bị bệnh gì cả. Do tuổi ngài đã cao nhưng ngài vẫn sống khỏe mạnh chỉ đôi khi sức khỏe yếu do tuổi tác khó tránh khỏi luật vô thường của cuộc sống.

Hòa thượng Thích Thanh Từ đã có công thành lập các thiền viện nào?

đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ

Hòa thượng Thích Thanh Từ là người đã có công vô cùng to lớn trong việc khôi phục dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử cực kỳ nổi tiếng hiện nay. Ngoài ra, ngài cũng là người thành lập nên rất nhiều các thiền viện khác nhau trên khắp cả trong và ngoài nước, từ đó làm nơi hướng dẫn tu hành và giáo hóa Phật pháp đến với tất cả mọi người. Dưới đây là những thiền viện do chính ngài thành lập và vẫn còn tồn tại đến nay:

– Thiền viện Chân Không, núi Tương Kỳ – Vũng Tàu, thành lập vào ngày 15 tháng 4 năm 1971; dời về Thường Chiếu năm 1986, được phép tái thiết năm 1995.

– Thiền viện Thường Chiếu, Long Thành – Đồng Nai, thành lập tháng 8 năm 1974.

– Thiền viện Viên Chiếu, Long Thành – Đồng Nai, thành lập tháng 4 năm 1975.

– Thiền viện Huệ Chiếu, Bà Rịa – Vũng Tàu, thành lập tháng 4 năm 1979.

– Thiền viện Linh Chiếu, Long Thành – Đồng Nai, thành lập tháng 2 năm 1980.

– Thiền viện Phổ Chiếu, Bà Rịa – Vũng Tàu, thành lập tháng 6 năm 1980.

– Thiền viện Tịch Chiếu, Long Hải, thành lập tháng 7 năm 1987.

– Thiền viện Liễu Đức, Long Thành – Đồng Nai.

– Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt, thành lập tháng 4 năm 1993.

– Chùa Lân – Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, 2002.

– Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, Xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, thành lập ngày 27 tháng 11 năm 2005

– Thiền viện Tuệ Quang, Linh Trung, Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

– Thiền viện Hương Hải, Long Thành – Đồng Nai.

– Thiền viện Đạo Huệ, Long Thành – Đồng Nai.

– Thiền viện Tuệ Thông, Long Thành – Đồng Nai.

– Thiền viện Đại Đăng, Bonsall, California, Hoa Kỳ, thành lập năm 2001.

– Thiền viện Quang Chiếu, Fort Worth, Texas, Hoa Kỳ, thành lập năm 2019.

– Thiền viện Bồ Đề, Boston, Hoa Kỳ, thành lập năm 2006.

– Thiền viện Diệu Nhân, Sacramento, California, Hoa Kỳ, thành lập năm 2002.

– Thiền tự Vô Ưu, San Jose, California, Hoa Kỳ.

– Thiền viện Trúc Lâm Minh Chánh, Renton, Washington, Hoa Kỳ, thành lập năm 2003.

– Thiền viện Chánh Tâm, Anaheim, California, Hoa Kỳ.

– Thiền viện Trúc Lâm Hoa Từ Mesa, Arizona, Hoa Kỳ.

– Thiền viện Chân Giác, Fullerton, California, Hoa Kỳ.

– Thiền viện Chân Tâm, Oklahoma City, Oklahoma, Hoa Kỳ.

– Thiền tự Đạo Viên, Québec, Canada, thành lập năm 2002.

– Thiền tự Thường Lạc – Pháp.

– Thiền tự Pháp Loa – Úc.

– Thiền tự Hiện Quang – Úc.

– Thiền tự Hỷ Xả – Úc.

– Thiền viện Tiêu Dao – Úc.

– Thiền tự Tuệ Căn – Úc.

– Thiền viện Trúc Lâm Trí Đức – Xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Khánh thành ngày 16 tháng 1 năm 2011

– Thiền Viện Phúc Trường – Tp.Thủ Dầu Một. Lạc thành ngày 16/05/2013

– Thiền Viện Trúc Lâm Thanh Nguyên – xã Tam Lập, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. khánh thành ngày 7/09/2014

– Từ Đường Trúc Lâm – xã Tích Thiện, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. khánh thành ngày 23/11/2015.

Bên cạnh đó, Hòa thượng Thích Thanh Từ cũng đã có công lớn trong việc tôn tạo và trùng tu hai Tổ đình Phật Quang và Phước Hậu, thuộc huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Ngài còn góp phần giảng giải và dịch rất nhiều bộ Kinh, Luận và Sử từ Hán văn sang Việt văn. Đồng thời, ngài cũng đã giảng giải rất nhiều bài pháp phổ thông cho Tăng Ni và Phật tử trên khắp cả nước, để họ có thể biết thêm nhiều kiến thức bổ ích về Phật pháp.

Hòa thượng Thích Thanh Từ đã đi du hóa và thăm viếng nhiều nước: Campuchia (1956); Ấn Ðộ, Sri Lanka và Nhật Bản (1965); Trung Quốc (1993); Pháp (1994, 2002); Thụy Sĩ (1994); Indonesia (1996); Canada (1994, 2002); Hoa Kỳ (1994, 2000, 2001, 2002); Úc (1996, 2002).

Một số bài giảng hay nhất của Hòa thượng Thích Thanh Từ

đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ

Hòa thượng Thích Thanh Từ không chỉ có công đóng góp trong việc biên soạn, dịch thuật nhiều pho sách quý giá để cho đông đảo chư Tăng ni có thể tìm đọc nâng cao kiến thức. Ngài cũng hay tổ chức các buổi nói chuyện, thuyết giảng Phật pháp đến với đông đảo chúng Phật tử xa gần. Một số bài giảng hay nhất của ngài có thể kể đến như:

– Tài sản không bao giờ mất

– Nghiệp báo

– Ngàn vàng

– Khám phá được ông chủ

– Nghiệp báo

– Sáu căn là cội gốc sanh tử

– Có linh hồn hay không

– Si mê là nguồn gốc của đau khổ

Và còn rất nhiều bài giảng hay và ý nghĩa khác, bạn có thể tìm đọc trên các mạng xã hội.

Đăng bởi: Hanoi1000.vn

Chuyên mục: Phật Pháp

[toggle title=”Xem thêm Tiểu sử Hòa thượng Thích Thanh Từ ở chùa nào? Còn sống không? Bị bệnh gì?” state=”close”]

Hòa thượng Thích Thanh Từ là một trong những bậc cao tăng vĩ đại, có sức ảnh hưởng lớn và những đóng góp vô tận cho nền Phật giáo nước nhà. Ngài đã có công trong việc phục hưng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử cũng như sáng lập ra rất nhiều thiền viện lớn nhỏ khắp cả nước.

Hòa thượng Thích Thanh Từ là ai?

đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ

Hòa thượng Thích Thanh Từ có thế danh là Trần Hữu Phước, ngài sinh ngày 24 tháng 7 năm 1924 tại ấp Tích Khánh, xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Cha của ngài là cụ ông Trần Văn Mão, mẹ là cụ bà Nguyễn Thị Đủ, ngài được sinh ra và lớn lên tại Việt Nam.

Thân phụ của Hòa thượng Thích Thanh Từ là cụ ông Trần Văn Mão, từ nhỏ đã theo nghiệp Nho, giữ nếp sống thanh bần, thanh cao, theo đạo Cao Ðài. Thân mẫu của ông là cụ bà Nguyễn Thị Ðủ, quê làng Thiện Mỹ, quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ, vốn là người hiền lành giản dị, suốt đời tần tảo sớm tối, hy sinh vì chồng vì con.

Hòa thượng Thích Thanh Từ tuy được sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh khó khăn nghèo khổ, thế nhưng ngài đã cực kỳ được chú ý với những nét riêng đặc biệt xuất hiện ngay từ khi còn thơ bé, đó là sự trầm mặc, ít nói, thích đọc sách, thích làm việc thiện, vô cùng hiếu thảo đối với cha mẹ của mình.

Vào năm ngài tròn 10 tuổi, nhân dịp theo cụ ông thân sinh lên Mốp Văn, Long Xuyên thọ tang người bác của gia đình, Hòa thượng Thích Thanh Từ đã được đến thăm chùa Sân Tiên trên núi Ba Thê lần đầu tiên để cúng cầu siêu cho bác. Nhờ căn duyên đó đã giúp ngài đã nảy sinh cái duyên đối với chốn cửa Phật. Ngài đã quyết định về làm công quả tại chùa Phật Quang sau này.

Ngày 15 tháng 7 năm 1949, sau 3 tháng làm công quả tại chùa Phật Quang, Hòa thượng Thích Thanh Từ đã được sư thầy Tổ Thiện Hoa chính thức cho xuất gia với pháp danh là Thanh Từ. Thế là ước nguyện của ngài nay đã được thực hiện. Từ đó, ngài đã siêng năng theo Tổ công phu bái sám, vừa học giáo lý, vừa dạy trẻ nhỏ những bài giảng Phật pháp. Ngoài ra ngài còn phụ trách trông nom và chăm sóc hàng chục chú tiểu nhỏ bé khác ở trong chùa.

Quá trình tu hành của Hòa thượng Thích Thanh Từ

đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ

Vào giai đoạn những năm 1949 – 1950, Hòa thượng Thích Thanh Từ theo học lớp Sơ đẳng năm thứ 3 tại Phật học đường Phật Quang. Đến năm 1951, ngài bắt đầu học lên Trung đẳng. Cũng trong năm này, chùa Phật Quang bị binh biến, Tổ Thiện Hoa phải dời tất cả tăng chúng lên chùa Phước Hậu, Hòa thượng Thích Thanh Từ cũng được theo và thọ giới Sa-di tại đây do Tổ Khánh Anh làm Hòa thượng đàn đầu.

Cho đến năm 1953, ngài đã theo Bổn sư là Tổ Thiện Hoa lên Sài Gòn, tiếp tục theo học lớp Trung đẳng tại Phật học đường Nam Việt chùa Ấn Quang. Tại đây, ngài được thọ giới cụ túc do Tổ Huệ Quang làm Hòa thượng đàn đầu. Từ những năm 1954 đến năm 1959, ngài đã theo học Cao đẳng Phật học tại Phật học đường Nam Việt.

Sau gần 10 năm trải qua Sơ đẳng, Trung đẳng, Cao đẳng Phật học, đoạn đường Tăng sinh kể như là đã hoàn tất, Hòa thượng Thích Thanh Từ bắt đầu bước sang thời kỳ hóa đạo. Ngài là một vị Giảng sư trong Giảng sư đoàn của ban Hoằng pháp, có uy tín khá lớn thời bấy giờ và được đông đảo chư Tăng ni, Phật tử xa gần yêu quý và tôn trọng.

Một số thành tựu của Hòa thượng Thích Thanh Từ đạt được

đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ

Từ năm 1960 đến năm 1964, Hòa thượng Thích Thanh Từ đã giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Phật giáo, có thể kể đến như: Phó Vụ trưởng Phật học vụ, Vụ trưởng Phật học vụ, Giáo sư kiêm Quản viện Phật học viện Huệ Nghiêm, Giảng sư Viện Ðại học Vạn Hạnh và các Phật học đường Dược Sư, Từ Nghiêm,…

Sau lễ mãn khóa Cao Trung chuyên khoa tại Huệ Nghiêm và Dược Sư, Hòa thượng Thích Thanh Từ đã xin phép Tổ Thiện Hoa được lùi về núi ở ẩn để tiếp tục tu hành. Khi này ngài đã thật sự giã từ chốn Phật học viện, giã từ phấn bảng với năm tháng miệt mài vì tứ chúng, thế nhưng hai tiếng “Tăng Ni” vẫn xoáy sâu vào lòng ngài, để sau này chút duyên “Thầy Trò” ấy lại gặp nhau và càng thêm son sắt trên đỉnh Tương Kỳ.

Tháng 4 năm 1966, Hòa thượng Thích Thanh Từ dựng Pháp Lạc thất trên núi Tương Kỳ, Vũng Tàu. Ngôi thất lá vuông vức bốn thước đơn sơ với bộ Ðại Tạng Kinh, thế nhưng đã ấp ủ một Thiền tăng nghèo quyết nhận lại cho kỳ được hạt châu vô giá của chính mình.

Rằm tháng tư năm Mậu Thân (1968), Hòa thượng Thích Thanh Từ tuyên bố nhập thất vô hạn định với lời kiên quyết: “Nếu đạo không sáng, thề không ra thất.” Thế là cửa sài đôi cánh khép, toàn thể môn nhân quy ngưỡng lên non một lòng mong đợi.

Tháng 7 năm 1968, ngài đã liễu đạt lý sắc không, thấu suốt thật tướng Bát-nhã. Từ con mắt Bát-nhã trông qua Tạng kinh, lời Phật, ý Tổ đã được khai thông. Giáo lý Ðại thừa và thâm ý nhà Thiền đã được Hòa thượng Thích Thanh Từ khám phá từ công phu thiền định của ngài.

Ngày 8 tháng 12 năm 1968, Hòa thượng Thích Thanh Từ tuyên bố ra thất giữa bao niềm hân hoan của Tăng Ni, Phật tử trên khắp cả nước. Nơi đây, đánh dấu một giai đoạn chuyển mình, một bước ngoặc lớn trong cuộc đời tu hành của vị Hòa thượng rất được yêu mến này. Để sau này Phật giáo Việt Nam vinh dự đón một ngôi sao sáng mở ra trang lịch sử Thiền sử Việt Nam rực rỡ huy hoàng nhất vào cuối thế kỷ 20.

Hòa Thượng Thích Thanh Từ bị bệnh gì? Còn sống không?

Tính đến ngày hôm nay, Hòa thượng Thích Thanh Từ vẫn đang còn sống khỏe mạnh. Mặc dù tuổi tác đã cao, thế nhưng ngài vẫn đang đi khắp thế giới để truyền bá tư tưởng Phật giáo và thành lập nhiều hơn nữa những thiền viện để làm nơi hướng dẫn tu hành cho những người yêu mến và muốn quy y cửa Phật, bất kể họ đến từ quốc gia nào, mang màu da nào đi chăng nữa.

Đại lão hòa thượng Thích Thanh Từ không bị bệnh gì cả. Do tuổi ngài đã cao nhưng ngài vẫn sống khỏe mạnh chỉ đôi khi sức khỏe yếu do tuổi tác khó tránh khỏi luật vô thường của cuộc sống.

Hòa thượng Thích Thanh Từ đã có công thành lập các thiền viện nào?

đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ

Hòa thượng Thích Thanh Từ là người đã có công vô cùng to lớn trong việc khôi phục dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử cực kỳ nổi tiếng hiện nay. Ngoài ra, ngài cũng là người thành lập nên rất nhiều các thiền viện khác nhau trên khắp cả trong và ngoài nước, từ đó làm nơi hướng dẫn tu hành và giáo hóa Phật pháp đến với tất cả mọi người. Dưới đây là những thiền viện do chính ngài thành lập và vẫn còn tồn tại đến nay:

– Thiền viện Chân Không, núi Tương Kỳ – Vũng Tàu, thành lập vào ngày 15 tháng 4 năm 1971; dời về Thường Chiếu năm 1986, được phép tái thiết năm 1995.

– Thiền viện Thường Chiếu, Long Thành – Đồng Nai, thành lập tháng 8 năm 1974.

– Thiền viện Viên Chiếu, Long Thành – Đồng Nai, thành lập tháng 4 năm 1975.

– Thiền viện Huệ Chiếu, Bà Rịa – Vũng Tàu, thành lập tháng 4 năm 1979.

– Thiền viện Linh Chiếu, Long Thành – Đồng Nai, thành lập tháng 2 năm 1980.

– Thiền viện Phổ Chiếu, Bà Rịa – Vũng Tàu, thành lập tháng 6 năm 1980.

– Thiền viện Tịch Chiếu, Long Hải, thành lập tháng 7 năm 1987.

– Thiền viện Liễu Đức, Long Thành – Đồng Nai.

– Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt, thành lập tháng 4 năm 1993.

– Chùa Lân – Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, 2002.

– Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, Xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, thành lập ngày 27 tháng 11 năm 2005

– Thiền viện Tuệ Quang, Linh Trung, Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

– Thiền viện Hương Hải, Long Thành – Đồng Nai.

– Thiền viện Đạo Huệ, Long Thành – Đồng Nai.

– Thiền viện Tuệ Thông, Long Thành – Đồng Nai.

– Thiền viện Đại Đăng, Bonsall, California, Hoa Kỳ, thành lập năm 2001.

– Thiền viện Quang Chiếu, Fort Worth, Texas, Hoa Kỳ, thành lập năm 2019.

– Thiền viện Bồ Đề, Boston, Hoa Kỳ, thành lập năm 2006.

– Thiền viện Diệu Nhân, Sacramento, California, Hoa Kỳ, thành lập năm 2002.

– Thiền tự Vô Ưu, San Jose, California, Hoa Kỳ.

– Thiền viện Trúc Lâm Minh Chánh, Renton, Washington, Hoa Kỳ, thành lập năm 2003.

– Thiền viện Chánh Tâm, Anaheim, California, Hoa Kỳ.

– Thiền viện Trúc Lâm Hoa Từ Mesa, Arizona, Hoa Kỳ.

– Thiền viện Chân Giác, Fullerton, California, Hoa Kỳ.

– Thiền viện Chân Tâm, Oklahoma City, Oklahoma, Hoa Kỳ.

– Thiền tự Đạo Viên, Québec, Canada, thành lập năm 2002.

– Thiền tự Thường Lạc – Pháp.

– Thiền tự Pháp Loa – Úc.

– Thiền tự Hiện Quang – Úc.

– Thiền tự Hỷ Xả – Úc.

– Thiền viện Tiêu Dao – Úc.

– Thiền tự Tuệ Căn – Úc.

– Thiền viện Trúc Lâm Trí Đức – Xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Khánh thành ngày 16 tháng 1 năm 2011

– Thiền Viện Phúc Trường – Tp.Thủ Dầu Một. Lạc thành ngày 16/05/2013

– Thiền Viện Trúc Lâm Thanh Nguyên – xã Tam Lập, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. khánh thành ngày 7/09/2014

– Từ Đường Trúc Lâm – xã Tích Thiện, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. khánh thành ngày 23/11/2015.

Bên cạnh đó, Hòa thượng Thích Thanh Từ cũng đã có công lớn trong việc tôn tạo và trùng tu hai Tổ đình Phật Quang và Phước Hậu, thuộc huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Ngài còn góp phần giảng giải và dịch rất nhiều bộ Kinh, Luận và Sử từ Hán văn sang Việt văn. Đồng thời, ngài cũng đã giảng giải rất nhiều bài pháp phổ thông cho Tăng Ni và Phật tử trên khắp cả nước, để họ có thể biết thêm nhiều kiến thức bổ ích về Phật pháp.

Hòa thượng Thích Thanh Từ đã đi du hóa và thăm viếng nhiều nước: Campuchia (1956); Ấn Ðộ, Sri Lanka và Nhật Bản (1965); Trung Quốc (1993); Pháp (1994, 2002); Thụy Sĩ (1994); Indonesia (1996); Canada (1994, 2002); Hoa Kỳ (1994, 2000, 2001, 2002); Úc (1996, 2002).

Một số bài giảng hay nhất của Hòa thượng Thích Thanh Từ

đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ

Hòa thượng Thích Thanh Từ không chỉ có công đóng góp trong việc biên soạn, dịch thuật nhiều pho sách quý giá để cho đông đảo chư Tăng ni có thể tìm đọc nâng cao kiến thức. Ngài cũng hay tổ chức các buổi nói chuyện, thuyết giảng Phật pháp đến với đông đảo chúng Phật tử xa gần. Một số bài giảng hay nhất của ngài có thể kể đến như:

– Tài sản không bao giờ mất

– Nghiệp báo

– Ngàn vàng

– Khám phá được ông chủ

– Nghiệp báo

– Sáu căn là cội gốc sanh tử

– Có linh hồn hay không

– Si mê là nguồn gốc của đau khổ

Và còn rất nhiều bài giảng hay và ý nghĩa khác, bạn có thể tìm đọc trên các mạng xã hội.

[/toggle]

Rate this post

Hanoi1000

Là một người sống hơn 30 năm ở Hà Nội. Blog được tạo ra để chia sẻ đến mọi người tất cả mọi thứ về Hà Nội. Hy vọng blog sẽ được nhiều bạn đọc đón nhận.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button