Phật Pháp

Tiểu sử Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu là ai? Cuộc đời và sự nghiệp

Hòa thượng Thích Quảng Đức vì chẳng thể ngồi im khi Phật giáo đứng trước nguy cơ diệt vong đã thực hiện tâm nguyện tự thiêu và để lại trái tim xá lợi bất diệt. Nhờ công đức của ngài đã góp phần rất lớn vào công cuộc làm sụp đổ chính quyền hà khắc đương thời, cứu nguy cho Phật giáo. Sau, để ghi nhớ sự hy sinh của ngài, Hội đồng Lưỡng viện Tăng Thống và Hóa Đạo (Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất) đã suy tôn ngài làm bồ tát. Hãy cùng tìm hiểu về tiểu sử Hòa thượng Thích Quảng Đức trong bài tổng hợp sau!

Tiểu sử Hòa Thượng Thích Quảng Đức là ai?

Hòa thượng Thích Quảng Đức sinh ra ở đâu?

Hòa thượng Thích Quảng Đức (pháp danh Thị Thủy, pháp tự Hành Pháp), tên khai sinh là Lâm văn Tuất. Ngài sinh năm 1897 (Đinh Dậu) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, trong một gia đình có bảy anh chị em. Thân sinh của ngài là cụ ông Lâm Hữu Ứng và cụ bà Nguyễn Thị Nương. 

Hòa thượng Thích Quảng Đức

Nhờ cơ duyên với nhà Phật từ sớm, khi lên 7 tuổi thì ngài được song thân cho phép xuất gia tu học với Hòa thượng Thích Hoằng Thâm – vừa là bổn sư vừa là cậu ruột. Sau, ngài được Hòa thượng Hoằng Thâm nhận làm con và đổi tên họ thành Nguyễn Văn Khiết.

Lên 15 tuổi, Hòa thượng Thích Quảng Đức thọ giới Sa di. Tới năm 20 tuổi, ngài thọ Tỳ kheo giới, lấy pháp danh là Thị Thủy, pháp tự là Hành Pháp và pháp hiệu là Quảng Đức.

Sau khi thọ giới, ngài phát nguyện nhập thất tịnh tu 3 năm ở Hòn núi Đất tại Ninh Hòa, biệt lập liên lạc với thế giới bên ngoài. Về sau này, ngài đã trở lại chính ngọn núi này để dựng chùa lấy hiệu là Thiên Lộc Tự.

Hành trình hoằng dương Phật pháp của thầy Thích Quảng Đức

Sau thời gian tịnh tu, Hòa thượng Quảng Đức rời núi để đi khắp miền Trung hoằng dương Phật pháp. Trong suốt 2 năm, ngài một mình pháp hạnh đầu đà, khất thực đó đây, gieo duyên Phật pháp tới chúng sinh. Sau đó, ngài trở lại chùa Sắc tứ Thiên Ân (Ninh Hòa, Nha Trang) để nhập thất.

Vào năm 1932, khi hội An Nam Phật Học vừa ra đời, ngài được Đại lão Hòa thượng chùa Hải Đức mời nhận chức Chứng minh Đạo sư cho Chi Hội Ninh Hòa. 

Năm 1935, ngài được bổ nhiệm giữ chức Kiểm Tăng cho Tỉnh hội Khánh Hòa. Cũng trong suốt thời gian ở miền Trung, ngài đã cùng với nhiều Tăng, Ni, Phật tử kiến tạo và trùng tu tất cả 14 ngôi chùa.

Năm 1943, Hòa thượng Thích Quảng Đức rời Khánh Hòa vào Nam hành đạo khắp Sài Gòn, Gia định, Định Tường, Hà Tiên… thậm chí ngài còn sang tận Campuchia hai năm để học hỏi và nghiên cứu kinh điển Pali, Phật giáo Nam Tông, vừa thực hiện giáo hóa cho Phật tử kiều bào ở đây.

Khi mới vào Nam, ngài lưu trú ở chùa Long Vĩnh (Sài Gòn) trong một thời gian dài. Thời gian này, Phật tử nơi đây còn gọi ngài là Hòa thượng Long Vĩnh. Và dù đi tới đâu, Hòa thượng Thích Quảng Đức cũng tích cực hoằng dương chánh pháp, khai sơn và trùng tu nhiều ngôi chùa. Trong suốt cuộc đời hành đạo của mình, ngài đã trùng tu và giúp đỡ xây dựng tổng cộng 31 ngôi chùa khắp từ Trung vào Nam.

Năm 1953, Hòa thượng Thích Quảng Đức được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Trị Sự và Trưởng Ban Nghi lễ Giáo Hội Tăng Già Nam Việt. Thời gian này, ngài cũng đồng thời là trụ trì chùa Phước Hòa – nơi đặt trụ sở đầu tiên của Hội Phật học Nam Việt. 

Ngôi chùa cuối cùng ngài trụ trì trước khi thực hiện tâm nguyện tự thiêu là chùa Quan Thế Âm (Phú Nhuận, Gia Định).

Tâm nguyện tự thiêu vì đạo của Hòa thượng Thích Quảng Đức

Dưới thời của chính quyền Ngô Đình Diệm, Phật giáo đứng trước nguy cơ diệt vong “sát sườn” do chính sách xâm thực văn hóa mà đạo Phật là đối tượng bị nhắm tới trước tiên.

Đó là thời điểm mà Phật giáo bị đàn áp, kỳ thị, cấm đoán hết sức ngột ngạt. Hầu như mọi lĩnh vực sinh hoạt của Tăng, Ni, Phật tử đều bị ngăn cản: Cấm không được treo cờ Phật giáo, cấm tổ chức sinh hoạt Phật giáo ở nơi công cộng, chùa chiền bị cướp bóc, tấn công nhưng chính quyền “làm ngơ”… và đỉnh điểm là vụ tàn sát Phật giáo ở Huế trong chính dịp lễ Phật đản khiến 8 Phật tử thiệt mạng và nhiều người khác bị thương.

Hòa thượng Thích Quảng Đức

Bi thương nối tiếp bi thương, Phật giáo nguy nan đứng trước nạn diệt vong. Và đó chính là lý do thôi thúc Hòa thượng Thích Quảng Đức quyết định không thể ngồi nhìn nữa, phải làm cái gì đó để đấu tranh, để khiến cho chính quyền và thế giới thấy rằng những điều đang xảy ra với Phật giáo ở Việt Nam là sai trái.

Ngày 27/5/1963, thầy Thích Quảng Đức đã soạn bản “Đơn xin tự thiêu” với năm nguyện vọng Phật giáo và phương pháp đấu tranh bất bạo động của Phật giáo Việt Nam. Trong đơn tâm nguyện ngài viết: “Tôi là một tu sĩ mệnh danh là trưởng tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi điềm nhiên tọa thị để cho Phật giáo tiêu vong… nên tôi vui lòng phát nguyện thiêu thân giả tạm này cúng dường chư Phật để hồi hướng công đức bảo tồn Phật giáo”.

“Mong ơn mười phương chư Phật, chư Đại Đức Tăng Ni chứng minh cho tôi đạt thành chí nguyện như sau:

  1. Mong ơn Phật Tổ gia hộ cho Tổng thống Ngô Đình Diệm sáng suốt chấp nhận năm nguyện vọng tối thiểu của Phật giáo Việt Nam ghi trong bản tuyên ngôn.
  2. Nhờ ơn Phật từ bi gia hộ cho Phật giáo Việt Nam được trường cửu bất diệt.
  3. Mong nhờ hồng ân chư Phật gia hộ cho chư Đại đức Tăng Ni, Phật tử Việt Nam tránh khỏi tai nạn khủng bố bắt bớ giam cầm của kẻ gian ác.
  4. Cầu nguyện cho đất nước thanh bình, quốc dân an lạc.

Trước khi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gửi lời cho Tổng thống Ngô Đình Diệm nên lấy lòng bác ái từ bi đối với quốc dân và thi hành chính sách bình đẳng tôn giáo để giữ vững nước nhà muôn thuở.

Tôi tha thiết kêu gọi chư Đại Đức Tăng Ni và Phật tử nên đoàn kết nhất trí hy sinh để bảo tồn Phật giáo.”

Hòa thượng Thích Quảng Đức

Trái tim bất tử của Hòa thượng Thích Quảng Đức

Bản tâm nguyện của ngài ban đầu đưa lên Giáo Hội Tăng Già Nam Việt không được chấp thuận. Nhưng trước quyết tâm và ý nguyện cao đẹp của ngài, cũng như tình thế nguy cấp bấy giờ, một cuộc họp của các Chư Tăng ở chùa Ấn Quang đã diễn ra và đồng ý để ngài thực hiện tâm nguyện.

Và đúng trưa ngày 11/6/1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức hòa vào dòng người diễu hành, tới đại lộ Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt (ngày nay là ngã tư Nguyễn Đình Chiểu – đường Cách mạng tháng Tám). Ngài ngồi tĩnh tọa trên đường nhựa nóng, kiết ấn tam muội, tay lần tràng hạt và niệm “Nam mô A Di Đà Phật”. 

Áo cà sa của ngài đã được tầm đầy xăng từ trước đó. Rồi ngài tự bật một que diêm châm lửa. Lứa cháy ngùn ngụt bao quanh da thịt nóng bỏng rẫy nhưng tất thảy mọi người chứng kiến cảnh tượng đó đều sửng sốt rằng gương mặt, dáng vẻ của ngài chưa một giây phút nào lộ vẻ đau đớn. Ngược lại, người ta chỉ thấy ngài ngồi sừng sững, an nhiên tựa như một pho tượng đồng trong suốt gần 15 phút tự thiêu.

Hòa thượng Thích Quảng Đức

Thi thể ngài sau đó được đem hỏa táng tại chùa Xá Lợi. Tuy nhiên, dù dưới sức nóng trong lò hỏa táng lên tới cả 4000 độ nhưng trái tim xá lợi của ngài vẫn còn nguyên, không hề bị thiêu cháy. Điều này cũng trùng với tâm nguyện của ngài trước khi tự thiêu, rằng sẽ để lại cho đời một vật gì đó, như là thành quả tu hành cả đời của ngài.

Trái tim bất tử của Hòa thượng Thích Quảng Đức chính là biểu tượng của lòng dũng cảm và sự nhiệm màu của Phật pháp. Sự kiện tự thiêu của ngài cũng chính là khởi đầu cho phong trào đấu tranh lật đổ chính quyền hà khắc đương thời, cứu nguy cho đất nước nói chung, cho Phật giáo nói riêng.

Tài liệu tham khảo:

https://thuvienhoasen.org/a5235/tieu-su-bo-tat-thich-quang-duc-1897-1963

https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%ADch_Qu%E1%BA%A3ng_%C4%90%E1%BB%A9c

https://phatgiao.org.vn/don-xin-tu-thieu-cua-bo-tat-thich-quang-duc-d41642.html

Đăng bởi: Hanoi1000.vn

Chuyên mục: Phật Pháp

Xem thêm Tiểu sử Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu là ai? Cuộc đời và sự nghiệp

Hòa thượng Thích Quảng Đức vì chẳng thể ngồi im khi Phật giáo đứng trước nguy cơ diệt vong đã thực hiện tâm nguyện tự thiêu và để lại trái tim xá lợi bất diệt. Nhờ công đức của ngài đã góp phần rất lớn vào công cuộc làm sụp đổ chính quyền hà khắc đương thời, cứu nguy cho Phật giáo. Sau, để ghi nhớ sự hy sinh của ngài, Hội đồng Lưỡng viện Tăng Thống và Hóa Đạo (Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất) đã suy tôn ngài làm bồ tát. Hãy cùng tìm hiểu về tiểu sử Hòa thượng Thích Quảng Đức trong bài tổng hợp sau!

Tiểu sử Hòa Thượng Thích Quảng Đức là ai?

Hòa thượng Thích Quảng Đức sinh ra ở đâu?

Hòa thượng Thích Quảng Đức (pháp danh Thị Thủy, pháp tự Hành Pháp), tên khai sinh là Lâm văn Tuất. Ngài sinh năm 1897 (Đinh Dậu) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, trong một gia đình có bảy anh chị em. Thân sinh của ngài là cụ ông Lâm Hữu Ứng và cụ bà Nguyễn Thị Nương. 

Hòa thượng Thích Quảng Đức

Nhờ cơ duyên với nhà Phật từ sớm, khi lên 7 tuổi thì ngài được song thân cho phép xuất gia tu học với Hòa thượng Thích Hoằng Thâm – vừa là bổn sư vừa là cậu ruột. Sau, ngài được Hòa thượng Hoằng Thâm nhận làm con và đổi tên họ thành Nguyễn Văn Khiết.

Lên 15 tuổi, Hòa thượng Thích Quảng Đức thọ giới Sa di. Tới năm 20 tuổi, ngài thọ Tỳ kheo giới, lấy pháp danh là Thị Thủy, pháp tự là Hành Pháp và pháp hiệu là Quảng Đức.

Sau khi thọ giới, ngài phát nguyện nhập thất tịnh tu 3 năm ở Hòn núi Đất tại Ninh Hòa, biệt lập liên lạc với thế giới bên ngoài. Về sau này, ngài đã trở lại chính ngọn núi này để dựng chùa lấy hiệu là Thiên Lộc Tự.

Hành trình hoằng dương Phật pháp của thầy Thích Quảng Đức

Sau thời gian tịnh tu, Hòa thượng Quảng Đức rời núi để đi khắp miền Trung hoằng dương Phật pháp. Trong suốt 2 năm, ngài một mình pháp hạnh đầu đà, khất thực đó đây, gieo duyên Phật pháp tới chúng sinh. Sau đó, ngài trở lại chùa Sắc tứ Thiên Ân (Ninh Hòa, Nha Trang) để nhập thất.

Vào năm 1932, khi hội An Nam Phật Học vừa ra đời, ngài được Đại lão Hòa thượng chùa Hải Đức mời nhận chức Chứng minh Đạo sư cho Chi Hội Ninh Hòa. 

Năm 1935, ngài được bổ nhiệm giữ chức Kiểm Tăng cho Tỉnh hội Khánh Hòa. Cũng trong suốt thời gian ở miền Trung, ngài đã cùng với nhiều Tăng, Ni, Phật tử kiến tạo và trùng tu tất cả 14 ngôi chùa.

Năm 1943, Hòa thượng Thích Quảng Đức rời Khánh Hòa vào Nam hành đạo khắp Sài Gòn, Gia định, Định Tường, Hà Tiên… thậm chí ngài còn sang tận Campuchia hai năm để học hỏi và nghiên cứu kinh điển Pali, Phật giáo Nam Tông, vừa thực hiện giáo hóa cho Phật tử kiều bào ở đây.

Khi mới vào Nam, ngài lưu trú ở chùa Long Vĩnh (Sài Gòn) trong một thời gian dài. Thời gian này, Phật tử nơi đây còn gọi ngài là Hòa thượng Long Vĩnh. Và dù đi tới đâu, Hòa thượng Thích Quảng Đức cũng tích cực hoằng dương chánh pháp, khai sơn và trùng tu nhiều ngôi chùa. Trong suốt cuộc đời hành đạo của mình, ngài đã trùng tu và giúp đỡ xây dựng tổng cộng 31 ngôi chùa khắp từ Trung vào Nam.

Năm 1953, Hòa thượng Thích Quảng Đức được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Trị Sự và Trưởng Ban Nghi lễ Giáo Hội Tăng Già Nam Việt. Thời gian này, ngài cũng đồng thời là trụ trì chùa Phước Hòa – nơi đặt trụ sở đầu tiên của Hội Phật học Nam Việt. 

Ngôi chùa cuối cùng ngài trụ trì trước khi thực hiện tâm nguyện tự thiêu là chùa Quan Thế Âm (Phú Nhuận, Gia Định).

Tâm nguyện tự thiêu vì đạo của Hòa thượng Thích Quảng Đức

Dưới thời của chính quyền Ngô Đình Diệm, Phật giáo đứng trước nguy cơ diệt vong “sát sườn” do chính sách xâm thực văn hóa mà đạo Phật là đối tượng bị nhắm tới trước tiên.

Đó là thời điểm mà Phật giáo bị đàn áp, kỳ thị, cấm đoán hết sức ngột ngạt. Hầu như mọi lĩnh vực sinh hoạt của Tăng, Ni, Phật tử đều bị ngăn cản: Cấm không được treo cờ Phật giáo, cấm tổ chức sinh hoạt Phật giáo ở nơi công cộng, chùa chiền bị cướp bóc, tấn công nhưng chính quyền “làm ngơ”… và đỉnh điểm là vụ tàn sát Phật giáo ở Huế trong chính dịp lễ Phật đản khiến 8 Phật tử thiệt mạng và nhiều người khác bị thương.

Hòa thượng Thích Quảng Đức

Bi thương nối tiếp bi thương, Phật giáo nguy nan đứng trước nạn diệt vong. Và đó chính là lý do thôi thúc Hòa thượng Thích Quảng Đức quyết định không thể ngồi nhìn nữa, phải làm cái gì đó để đấu tranh, để khiến cho chính quyền và thế giới thấy rằng những điều đang xảy ra với Phật giáo ở Việt Nam là sai trái.

Ngày 27/5/1963, thầy Thích Quảng Đức đã soạn bản “Đơn xin tự thiêu” với năm nguyện vọng Phật giáo và phương pháp đấu tranh bất bạo động của Phật giáo Việt Nam. Trong đơn tâm nguyện ngài viết: “Tôi là một tu sĩ mệnh danh là trưởng tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi điềm nhiên tọa thị để cho Phật giáo tiêu vong… nên tôi vui lòng phát nguyện thiêu thân giả tạm này cúng dường chư Phật để hồi hướng công đức bảo tồn Phật giáo”.

“Mong ơn mười phương chư Phật, chư Đại Đức Tăng Ni chứng minh cho tôi đạt thành chí nguyện như sau:

  1. Mong ơn Phật Tổ gia hộ cho Tổng thống Ngô Đình Diệm sáng suốt chấp nhận năm nguyện vọng tối thiểu của Phật giáo Việt Nam ghi trong bản tuyên ngôn.
  2. Nhờ ơn Phật từ bi gia hộ cho Phật giáo Việt Nam được trường cửu bất diệt.
  3. Mong nhờ hồng ân chư Phật gia hộ cho chư Đại đức Tăng Ni, Phật tử Việt Nam tránh khỏi tai nạn khủng bố bắt bớ giam cầm của kẻ gian ác.
  4. Cầu nguyện cho đất nước thanh bình, quốc dân an lạc.

Trước khi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gửi lời cho Tổng thống Ngô Đình Diệm nên lấy lòng bác ái từ bi đối với quốc dân và thi hành chính sách bình đẳng tôn giáo để giữ vững nước nhà muôn thuở.

Tôi tha thiết kêu gọi chư Đại Đức Tăng Ni và Phật tử nên đoàn kết nhất trí hy sinh để bảo tồn Phật giáo.”

Hòa thượng Thích Quảng Đức

Trái tim bất tử của Hòa thượng Thích Quảng Đức

Bản tâm nguyện của ngài ban đầu đưa lên Giáo Hội Tăng Già Nam Việt không được chấp thuận. Nhưng trước quyết tâm và ý nguyện cao đẹp của ngài, cũng như tình thế nguy cấp bấy giờ, một cuộc họp của các Chư Tăng ở chùa Ấn Quang đã diễn ra và đồng ý để ngài thực hiện tâm nguyện.

Và đúng trưa ngày 11/6/1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức hòa vào dòng người diễu hành, tới đại lộ Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt (ngày nay là ngã tư Nguyễn Đình Chiểu – đường Cách mạng tháng Tám). Ngài ngồi tĩnh tọa trên đường nhựa nóng, kiết ấn tam muội, tay lần tràng hạt và niệm “Nam mô A Di Đà Phật”. 

Áo cà sa của ngài đã được tầm đầy xăng từ trước đó. Rồi ngài tự bật một que diêm châm lửa. Lứa cháy ngùn ngụt bao quanh da thịt nóng bỏng rẫy nhưng tất thảy mọi người chứng kiến cảnh tượng đó đều sửng sốt rằng gương mặt, dáng vẻ của ngài chưa một giây phút nào lộ vẻ đau đớn. Ngược lại, người ta chỉ thấy ngài ngồi sừng sững, an nhiên tựa như một pho tượng đồng trong suốt gần 15 phút tự thiêu.

Hòa thượng Thích Quảng Đức

Thi thể ngài sau đó được đem hỏa táng tại chùa Xá Lợi. Tuy nhiên, dù dưới sức nóng trong lò hỏa táng lên tới cả 4000 độ nhưng trái tim xá lợi của ngài vẫn còn nguyên, không hề bị thiêu cháy. Điều này cũng trùng với tâm nguyện của ngài trước khi tự thiêu, rằng sẽ để lại cho đời một vật gì đó, như là thành quả tu hành cả đời của ngài.

Trái tim bất tử của Hòa thượng Thích Quảng Đức chính là biểu tượng của lòng dũng cảm và sự nhiệm màu của Phật pháp. Sự kiện tự thiêu của ngài cũng chính là khởi đầu cho phong trào đấu tranh lật đổ chính quyền hà khắc đương thời, cứu nguy cho đất nước nói chung, cho Phật giáo nói riêng.

Tài liệu tham khảo:

https://thuvienhoasen.org/a5235/tieu-su-bo-tat-thich-quang-duc-1897-1963

https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%ADch_Qu%E1%BA%A3ng_%C4%90%E1%BB%A9c

https://phatgiao.org.vn/don-xin-tu-thieu-cua-bo-tat-thich-quang-duc-d41642.html

Rate this post

Hanoi1000

Là một người sống hơn 30 năm ở Hà Nội. Blog được tạo ra để chia sẻ đến mọi người tất cả mọi thứ về Hà Nội. Hy vọng blog sẽ được nhiều bạn đọc đón nhận.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button