Phật Pháp

Thầy Thích Huyền Diệu là ai? Tiểu sử và đạo nghiệp chi tiết

Thượng tọa, hòa thượng Thích Huyền Diệu là cái tên vô cùng quen thuộc trong giới Phật môn hiện nay, được rất nhiều người biết đến bởi sự đức độ, đóng góp to lớn của ngài đối với nền Phật giáo nước nhà. Bài viết sau đây sẽ phần nào giúp bạn hiểu thêm về cuộc đời và con người của ngài.

Tiểu sử hòa thượng Thích Huyền Diệu

Thầy Thích Huyền Diệu

Thượng tọa, hòa thượng Thích Huyền Diệu có thế danh là Lâm Trung Quốc, sinh năm 1946, hiện chưa rõ cụ thể ngày và tháng sinh. Ngài sinh ra và lớn lên tại xã Ba Tri, nay thuộc tỉnh Bến Tre. Hòa thượng vốn được sinh ra trong một gia đình nghèo khó ở tỉnh Bến Tre, thiếu thốn đủ bề. Tuy vậy, ngay từ khi còn niên thiếu, hòa thượng Thích Huyền Diệu đã có căn duyên với Phật pháp. Ngài chính thức xuất gia tu học với trưởng lão Hòa thượng Thích Hoằng Nhơn ở chùa Mai Sơn, Tịnh Biên (thuộc tỉnh An Giang). Đây chính là cơ duyên tốt đẹp đã giúp thay đổi hoàn toàn cuộc đời của thầy.

Một số thông tin về quá trình hoạt động của Hòa thượng Thích Huyền Diệu

Thầy Thích Huyền Diệu

Năm 1969, hòa thượng Thích Huyền Diệu đang là sinh viên theo học tại Đại học Nantes và Sorbonne của Pháp.

Cùng trong thời gian theo học, thầy đã đặt chân đến Bồ Đề Đạo Tràng ở Ấn Độ. Khi quỳ dưới Kim Cang tọa, trong lòng thầy bỗng trào dâng một niềm xúc động vô bờ, bởi ước nguyện to lớn nhất của cuộc đời thầy dường như đã thành sự thật. 

Tuy vậy, khi được chứng kiến các ngôi chùa của các nước phát triển hiện hữu trên thánh địa Phật giáo, hòa thượng Thích Huyền Diệu không khỏi chạnh lòng khi chưa thấy được bất kỳ ngôi chùa của Việt Nam nào xuất hiện tại nơi đây. Mặc dù đạo Phật đã đến Việt Nam và có lịch sử phát triển trên 2.000 năm.

Vào năm 1987, Hòa thượng Thích Huyền Diệu dành dụm từng đồng tiền mà thầy kiếm được khi còn đi dạy học. Ngoài ra thầy còn nhận được sự ủng hộ tích cực của các học trò tới từ châu Âu – châu Mỹ, trải qua bao khó khăn trắc trở, thầy đã tìm mua được miếng đất chỉ rộng vẻn vẹn 450m2 để làm nơi đầu tiên xây dựng ngôi chùa Việt, trong khi ngôi chùa của các nước khác rộng đến hàng ngàn mét do nhận được sự hỗ trợ rất lớn của Chính phủ các nước.

Lý do khiến cho việc xây dựng chùa Việt tại Ấn Độ gặp nhiều khó khăn, đó là bởi vì vào đầu thập niên 80, khi này Việt Nam đã kết thúc chiến tranh và bước vào giai đoạn đổi mới, phát triển. Thế nhưng tình hình kinh tế vẫn còn rất nghèo, nhân dân vẫn thiếu đói ở nhiều nơi. Cùng với đó Phật giáo trong nước vào giai đoạn này chưa được sự chấn hưng, cộng đồng người Việt ở Bồ Đề Đạo Tràng Ấn Độ khi đó chỉ có một mình Hòa thượng Thích Huyền Diệu mà thôi. Cho nên việc xây chùa khi này gặp phải tình trạng khó khăn chưa từng có, do không được chính phủ hỗ trợ. 

Thầy Thích Huyền Diệu

Tuy nhiên Hòa thượng Thích Huyền Diệu lại gặp cơ duyên không ngờ tới, khi mà lần lượt những chủ đất xung quanh vùng đã đồng ý bán lại cho thầy các mảnh đất với giá thích hợp. Dần dần thầy gom góp tích tiểu thành đại, diện tích đất để xây dựng nên ngôi chùa Việt đầu tiên ở Ấn Độ đã lên đến hơn 30.000 m2.

Do bởi Hòa thượng Thích Huyền Diệu là người nước ngoài đầu tiên được phép cấp đất xây chùa tại nơi đức Phật đản sinh. Vậy nên vào năm 1993, vua Nepal đã cho một chiếc máy bay đặc biệt đưa đón thầy xuống tận vùng Lumbini để lựa chọn đất nhằm xây nên ngôi chùa thứ 2 của người Việt tại đây. Ngồi trên máy bay để lựa chọn kỹ lưỡng, thế nhưng khi đứng trước khu đất, thầy lại cảm thấy thất vọng tràn trề. Đó là bởi vùng đất mà nhà vua định cấp cho thầy xây chùa vốn là một vũng trùng sình lầy và toàn ao hồ, điều này sẽ khiến cho việc xây dựng chùa sẽ trở nên khó khăn hơn bao giờ hết bởi vì còn phải lấp đất, tát nước ao hồ đi. Khi này trong túi của Hòa thượng Thích Huyền Diệu chỉ còn đúng 60 USD, không đủ để mua sắm bất kỳ nguyên liệu nào.

Tuy vậy, Hòa thượng Thích Huyền Diệu đã không quản ngại gian khó, thầy đã tự tay bẻ sắt, đúc móng làm chùa rồi tự tay trồng những bông sen, bông súng, tự tay đóng những vật dụng sinh hoạt trong chùa. Thầy lấy sự giản dị, đơn sơ làm điều an vui cho cuộc đời tu hành của mình. Chính sự giản dị, đơn sơ đó đã làm nên linh hồn và nền móng cho ngôi chùa An Việt Nam Phật Quốc Tự thứ 2 nằm giữa muôn vàn kiến trúc chùa chiền khác nhau tại thánh địa Phật giáo ở Lumbini.

Vào năm 2002, tại Nepal diễn ra vụ thảm sát hoàng gia, điều đó khiến cho đất nước này lâm vào cuộc nội chiến triền miên và kéo dài. Khi chiến tranh Nepal nổ ra, trong lòng của Hòa thượng Thích Huyền Diệu đã hình thành nên một tình yêu thương nhân loại cao cả, giúp thầy có thể thực hiện một sứ mệnh vĩ đại nhằm góp phần chấm dứt cuộc nội chiến đẫm máu khiến hơn 14.000 người thiệt mạng.

Vào năm 2005, Hòa thượng Thích Huyền Diệu đã gửi thư trực tiếp đến cho nhà Vua Nepal cùng với ban lãnh đạo các đảng phái chính trị khác nhau, đề nghị kiến lập hòa bình cho khu vực Lumbini nói riêng và toàn bộ đất nước Nepal nói chung. Lá thư tâm huyết của thầy khi đó đã có một tiếng vang vô cùng lớn trong dư luận. Điều này một lần nữa đã giúp hình ảnh của Việt Nam được đề cao trong giới Phật giáo quốc tế và bạn bè thế giới nói chung. 

Nhiều năm sau này, khi cuộc nội chiến ở Nepal đã kết thúc, Hòa thượng Thích Huyền Diệu đã được quốc gia Nam Á này đề cử nhận giải Nobel vì Hòa bình. Thế nhưng thầy đã từ chối, với mong muốn được an bình, không vụ lợi và bon chen sự đời để nhằm có thể góp phần xây dựng và giới thiệu cho bạn bè gần xa biết đến thêm nhiều ngôi chùa khác của người Việt hơn nữa.

Những thành tựu nổi bật mà Hòa thượng Thích Huyền Diệu đã đạt được

Thầy Thích Huyền Diệu

Trải qua nhiều năm tu hành và hoằng dương Phật pháp Việt Nam, thầy Thích Huyền Diệu không chỉ được đông đảo bạn bè quốc tế yêu mến, mà thầy còn được vinh hạnh giữ những chức vụ cao quý, có thể kể đến như:

– Nguyên chủ nhiệm tờ Nhật báo Gió Nam (nhưng chỉ một năm sau do tố cáo tội ác Mỹ Sơn, Mỹ Lai trước toà án Hoa Kỳ, phiên xử 21-12-1969 ủy quyền cho luật sư Paul Martin King đại diện quyền lợi nạn nhân bị đình bản).

– Tiến sĩ khoa thần học tại Đại học Sorbonne, Pháp.

– Khai sơn và trụ trì Việt Nam Phật Quốc tự, Ấn Độ.

– Khai sơn và trụ trì Việt Nam Phật Quốc tự, Lumbini (Lâm Tỳ Ni), Nepal

–  Chủ tịch Liên đoàn Phật giáo quốc tế Lâm Tỳ Ni.

– Từng được Nepal đề cử giải Nobel Hòa bình nhưng thầy Thích Huyền Diệu đã từ chối.

– Người khởi xướng đầu tiên, kêu gọi cộng đồng Phật giáo thế giới, khôi phục các thánh tích Phật giáo tại Nepal và Ấn Độ.

– Người có công đầu trong việc thuyết phục phe du kích quân Maoist và chính phủ Nepal ngồi vào bàn đàm phán, ký kết hiệp ước hòa bình, chấm dứt cuộc nội chiến kéo dài 10 năm, làm hơn 14.000 người thiệt mạng.

Cuộc đời của thầy Thích Huyền Diệu là cả một cuộc cách mạng nhằm giữ vững nền hòa bình thế giới, bảo vệ nhân loại khỏi chiến tranh và tích cực xây dựng nên những ngôi chùa Việt Nam tại xứ sở của Phật giáo. Những đóng góp to lớn của thầy sẽ không bao giờ nhạt phai, chúng Tăng ni, Phật tử đời đời ghi nhớ công lao của thầy.

Đăng bởi: Hanoi1000.vn

Chuyên mục: Phật Pháp

[toggle title=”Xem thêm Thầy Thích Huyền Diệu là ai? Tiểu sử và đạo nghiệp chi tiết” state=”close”]

Thượng tọa, hòa thượng Thích Huyền Diệu là cái tên vô cùng quen thuộc trong giới Phật môn hiện nay, được rất nhiều người biết đến bởi sự đức độ, đóng góp to lớn của ngài đối với nền Phật giáo nước nhà. Bài viết sau đây sẽ phần nào giúp bạn hiểu thêm về cuộc đời và con người của ngài.

Tiểu sử hòa thượng Thích Huyền Diệu

Thầy Thích Huyền Diệu

Thượng tọa, hòa thượng Thích Huyền Diệu có thế danh là Lâm Trung Quốc, sinh năm 1946, hiện chưa rõ cụ thể ngày và tháng sinh. Ngài sinh ra và lớn lên tại xã Ba Tri, nay thuộc tỉnh Bến Tre. Hòa thượng vốn được sinh ra trong một gia đình nghèo khó ở tỉnh Bến Tre, thiếu thốn đủ bề. Tuy vậy, ngay từ khi còn niên thiếu, hòa thượng Thích Huyền Diệu đã có căn duyên với Phật pháp. Ngài chính thức xuất gia tu học với trưởng lão Hòa thượng Thích Hoằng Nhơn ở chùa Mai Sơn, Tịnh Biên (thuộc tỉnh An Giang). Đây chính là cơ duyên tốt đẹp đã giúp thay đổi hoàn toàn cuộc đời của thầy.

Một số thông tin về quá trình hoạt động của Hòa thượng Thích Huyền Diệu

Thầy Thích Huyền Diệu

Năm 1969, hòa thượng Thích Huyền Diệu đang là sinh viên theo học tại Đại học Nantes và Sorbonne của Pháp.

Cùng trong thời gian theo học, thầy đã đặt chân đến Bồ Đề Đạo Tràng ở Ấn Độ. Khi quỳ dưới Kim Cang tọa, trong lòng thầy bỗng trào dâng một niềm xúc động vô bờ, bởi ước nguyện to lớn nhất của cuộc đời thầy dường như đã thành sự thật. 

Tuy vậy, khi được chứng kiến các ngôi chùa của các nước phát triển hiện hữu trên thánh địa Phật giáo, hòa thượng Thích Huyền Diệu không khỏi chạnh lòng khi chưa thấy được bất kỳ ngôi chùa của Việt Nam nào xuất hiện tại nơi đây. Mặc dù đạo Phật đã đến Việt Nam và có lịch sử phát triển trên 2.000 năm.

Vào năm 1987, Hòa thượng Thích Huyền Diệu dành dụm từng đồng tiền mà thầy kiếm được khi còn đi dạy học. Ngoài ra thầy còn nhận được sự ủng hộ tích cực của các học trò tới từ châu Âu – châu Mỹ, trải qua bao khó khăn trắc trở, thầy đã tìm mua được miếng đất chỉ rộng vẻn vẹn 450m2 để làm nơi đầu tiên xây dựng ngôi chùa Việt, trong khi ngôi chùa của các nước khác rộng đến hàng ngàn mét do nhận được sự hỗ trợ rất lớn của Chính phủ các nước.

Lý do khiến cho việc xây dựng chùa Việt tại Ấn Độ gặp nhiều khó khăn, đó là bởi vì vào đầu thập niên 80, khi này Việt Nam đã kết thúc chiến tranh và bước vào giai đoạn đổi mới, phát triển. Thế nhưng tình hình kinh tế vẫn còn rất nghèo, nhân dân vẫn thiếu đói ở nhiều nơi. Cùng với đó Phật giáo trong nước vào giai đoạn này chưa được sự chấn hưng, cộng đồng người Việt ở Bồ Đề Đạo Tràng Ấn Độ khi đó chỉ có một mình Hòa thượng Thích Huyền Diệu mà thôi. Cho nên việc xây chùa khi này gặp phải tình trạng khó khăn chưa từng có, do không được chính phủ hỗ trợ. 

Thầy Thích Huyền Diệu

Tuy nhiên Hòa thượng Thích Huyền Diệu lại gặp cơ duyên không ngờ tới, khi mà lần lượt những chủ đất xung quanh vùng đã đồng ý bán lại cho thầy các mảnh đất với giá thích hợp. Dần dần thầy gom góp tích tiểu thành đại, diện tích đất để xây dựng nên ngôi chùa Việt đầu tiên ở Ấn Độ đã lên đến hơn 30.000 m2.

Do bởi Hòa thượng Thích Huyền Diệu là người nước ngoài đầu tiên được phép cấp đất xây chùa tại nơi đức Phật đản sinh. Vậy nên vào năm 1993, vua Nepal đã cho một chiếc máy bay đặc biệt đưa đón thầy xuống tận vùng Lumbini để lựa chọn đất nhằm xây nên ngôi chùa thứ 2 của người Việt tại đây. Ngồi trên máy bay để lựa chọn kỹ lưỡng, thế nhưng khi đứng trước khu đất, thầy lại cảm thấy thất vọng tràn trề. Đó là bởi vùng đất mà nhà vua định cấp cho thầy xây chùa vốn là một vũng trùng sình lầy và toàn ao hồ, điều này sẽ khiến cho việc xây dựng chùa sẽ trở nên khó khăn hơn bao giờ hết bởi vì còn phải lấp đất, tát nước ao hồ đi. Khi này trong túi của Hòa thượng Thích Huyền Diệu chỉ còn đúng 60 USD, không đủ để mua sắm bất kỳ nguyên liệu nào.

Tuy vậy, Hòa thượng Thích Huyền Diệu đã không quản ngại gian khó, thầy đã tự tay bẻ sắt, đúc móng làm chùa rồi tự tay trồng những bông sen, bông súng, tự tay đóng những vật dụng sinh hoạt trong chùa. Thầy lấy sự giản dị, đơn sơ làm điều an vui cho cuộc đời tu hành của mình. Chính sự giản dị, đơn sơ đó đã làm nên linh hồn và nền móng cho ngôi chùa An Việt Nam Phật Quốc Tự thứ 2 nằm giữa muôn vàn kiến trúc chùa chiền khác nhau tại thánh địa Phật giáo ở Lumbini.

Vào năm 2002, tại Nepal diễn ra vụ thảm sát hoàng gia, điều đó khiến cho đất nước này lâm vào cuộc nội chiến triền miên và kéo dài. Khi chiến tranh Nepal nổ ra, trong lòng của Hòa thượng Thích Huyền Diệu đã hình thành nên một tình yêu thương nhân loại cao cả, giúp thầy có thể thực hiện một sứ mệnh vĩ đại nhằm góp phần chấm dứt cuộc nội chiến đẫm máu khiến hơn 14.000 người thiệt mạng.

Vào năm 2005, Hòa thượng Thích Huyền Diệu đã gửi thư trực tiếp đến cho nhà Vua Nepal cùng với ban lãnh đạo các đảng phái chính trị khác nhau, đề nghị kiến lập hòa bình cho khu vực Lumbini nói riêng và toàn bộ đất nước Nepal nói chung. Lá thư tâm huyết của thầy khi đó đã có một tiếng vang vô cùng lớn trong dư luận. Điều này một lần nữa đã giúp hình ảnh của Việt Nam được đề cao trong giới Phật giáo quốc tế và bạn bè thế giới nói chung. 

Nhiều năm sau này, khi cuộc nội chiến ở Nepal đã kết thúc, Hòa thượng Thích Huyền Diệu đã được quốc gia Nam Á này đề cử nhận giải Nobel vì Hòa bình. Thế nhưng thầy đã từ chối, với mong muốn được an bình, không vụ lợi và bon chen sự đời để nhằm có thể góp phần xây dựng và giới thiệu cho bạn bè gần xa biết đến thêm nhiều ngôi chùa khác của người Việt hơn nữa.

Những thành tựu nổi bật mà Hòa thượng Thích Huyền Diệu đã đạt được

Thầy Thích Huyền Diệu

Trải qua nhiều năm tu hành và hoằng dương Phật pháp Việt Nam, thầy Thích Huyền Diệu không chỉ được đông đảo bạn bè quốc tế yêu mến, mà thầy còn được vinh hạnh giữ những chức vụ cao quý, có thể kể đến như:

– Nguyên chủ nhiệm tờ Nhật báo Gió Nam (nhưng chỉ một năm sau do tố cáo tội ác Mỹ Sơn, Mỹ Lai trước toà án Hoa Kỳ, phiên xử 21-12-1969 ủy quyền cho luật sư Paul Martin King đại diện quyền lợi nạn nhân bị đình bản).

– Tiến sĩ khoa thần học tại Đại học Sorbonne, Pháp.

– Khai sơn và trụ trì Việt Nam Phật Quốc tự, Ấn Độ.

– Khai sơn và trụ trì Việt Nam Phật Quốc tự, Lumbini (Lâm Tỳ Ni), Nepal

–  Chủ tịch Liên đoàn Phật giáo quốc tế Lâm Tỳ Ni.

– Từng được Nepal đề cử giải Nobel Hòa bình nhưng thầy Thích Huyền Diệu đã từ chối.

– Người khởi xướng đầu tiên, kêu gọi cộng đồng Phật giáo thế giới, khôi phục các thánh tích Phật giáo tại Nepal và Ấn Độ.

– Người có công đầu trong việc thuyết phục phe du kích quân Maoist và chính phủ Nepal ngồi vào bàn đàm phán, ký kết hiệp ước hòa bình, chấm dứt cuộc nội chiến kéo dài 10 năm, làm hơn 14.000 người thiệt mạng.

Cuộc đời của thầy Thích Huyền Diệu là cả một cuộc cách mạng nhằm giữ vững nền hòa bình thế giới, bảo vệ nhân loại khỏi chiến tranh và tích cực xây dựng nên những ngôi chùa Việt Nam tại xứ sở của Phật giáo. Những đóng góp to lớn của thầy sẽ không bao giờ nhạt phai, chúng Tăng ni, Phật tử đời đời ghi nhớ công lao của thầy.

[/toggle]

Rate this post

Hanoi1000

Là một người sống hơn 30 năm ở Hà Nội. Blog được tạo ra để chia sẻ đến mọi người tất cả mọi thứ về Hà Nội. Hy vọng blog sẽ được nhiều bạn đọc đón nhận.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button