Tài liệu

Kiểu nhân cách xã hội là gì?

1. Khái niệm kiểu nhân cách

Kiểu nhân cách là một mẫu người bao gồm những đặc điểm điển hình về mặt xã hội chung cho một lớp hay một loại người. Việc phân kiểu nhân cách mang tính mô tả. Nó cho phép hình dung một cách chung nhất về một nhóm nhân cách trong xã hội giữa nhiều kiểu nhân cách khác nhau.

  • Đây là một mô hình bao gồm các đặc điểm xã hội của con người do các nhà nghiên cứu phác họa lên để nghiên cứu. Trong thực tế, con người không hoàn toàn trùng khớp lên các mô hình này mà mô hình này có tính đại diện cho một số người trong cộng đồng.
  • Các đặc điểm (hay tiêu chuẩn) được lấy làm căn cứ phân kiểu người thường là các đặc điểm xã hội như: thái độ đối với công việc, với những giá trị trong xã hội. Các kiểu nhân cách này, trong một xã hội thường không đối lập mà có nét tương đồng khác nhau ở thái độ ưu thế nổi bật đối với một giá trị nào đó: ham địa vị, ham tiền tài.

Ngoài ra vẫn còn những nét theo đuổi những giá trị chung của xã hội song không như nhau.

Điều lưu ý phải phân biệt hai loại kiểu nhân cách: kiểu nhân cách cơ bản và kiểu nhân cách lý tưởng:

+ Kiểu nhân cách cơ bản: là kiểu nhân cách có tính chất đại diện cho cùng tầng xét về mặt thống kê. Nó thường xuất hiện, vốn có ở phần lớn các thành viên trong cộng đồng.

+ Kiểu nhân cách lý tưởng là mẫu người cần xây đựng cho một giai đoạn lịch sử nhất định.

Giữa hai loại này bao giờ cũng có khoảng cách, thậm chí có khi đối lập nhau.

Nhưng cũng có thể kiểu nhân cách cơ bản đang tiến tới kiểu nhân cách lý tưởng.

2. Sự khác nhau giữa hai khái niệm “nhân cách” và “kiểu nhân cách”.

Khái niệm “nhân cách” ngoài những nét đặc điểm, đặc tính điển hình về mặt xã hội (có ý nghĩa xã hội) còn bao hàm cả những nét, đặc điểm, đặc tính cá biệt nữa. Do đó nói tới nhân cách là nói tới cái chung và cả cái riêng cá biệt của một con người cụ thể. Nói khác đi tâm lý không phải của bất kì cá nhân nào cũng đều là kiểu tâm lý là kiểu nhân cách xét về mặt giai cấp – xã hội.

Ta hiểu rằng nhân cách tất nhiên mang bản chất xã hội lịch sử nhưng Tâm lý học nhân cách coi nhân cách có tính chất chung hơn, trừu tượng hơn về mặt cấu trúc nhưng không bỏ qua những nét đặc điểm cá biệt.

Còn nói đến kiểu nhân cách là nói các điển hình phi cá tính, phi cá nhân, xem các điển hình không phải là cái đơn nhất mà là một cái gì chung cho một giai cấp, một tầng lớp, một xã hội. Đó là hình ảnh thực, “tập trung hóa” của các cộng đồng người.

3. Phân biệt kiểu nhân cách xã hội và nhân vật điển hình của nghệ thuật

Nhân vật điển hình của nghệ thuật là nhân vật được điển hình hóa, có những đặc điểm điển hình được mô tả dưới hình thức cảm tính trực quan. Khái quát từ nhiều người có thực trong thực tế nhưng nó còn là một cá tính nữa với nghĩa là một cái đơn nhất không có người thứ hai như vậy.

Như vậy kiểu nhân cách không có nét chung với nhân vật điển hình mà nó có những nét tiêu biểu cho một kiểu nhân cách xã hội nhưng hai khái niệm này khác nhau.

Vì Tâm lý học xã hội làm việc với các kiểu có tính chất đại diện ít nhất có tính chất phổ biến, trung bình xét về mặt thống kê toán học theo quy luật số lớn.

Tóm lại, điển hình nghệ thuật bao giờ cũng hiện lên với vẻ đơn nhất của một nhân vật, có xương, nhưng không có tính chất đại diện xét về số lớn mà nó có tính chất cá biệt nhiều hơn.

Song Tâm lý học xã hội phải khai thác nhiều ở chỗ nhân vật điển hình trong nghệ thuật vì chính nó phản ánh phần nào các kiểu nhân cách của một giai đoạn lịch sử nhất định. Đó là nguồn tài liệu phong phú của những công trình nghiên cứu vấn đề này.

4. Ví dụ về nghiên cứu kiểu nhân cách xã hội

Từ những năm 70 của thế kỉ XX, Olsanxki đưa ra 8 kiểu nhân cách trên cơ sở xác định thái độ ưu thế của mỗi kiểu đối với một giá trị nào đó trong xã hội Nga hồi bấy giờ. Kết quả nghiên cứu như sau:

  1. Vlađimir: tiến nhanh từ một công nhân bình thường thành một cán bộ phụ trách cỡ lớn. Chưa đầy 40 tuổi mà Vlađimir đã chỉ huy hàng mấy trăm người đang sản xuất một loại sản phẩm quan trọng. Cấp lãnh đạo thừa nhận năng lực của anh ta, có cơ sở để chờ đón anh ta sẽ tiếp tục lên cấp.

Đặc trưng của người này là địa vị, chức vụ.

  1. Mátvây: công việc anh làm không mang lại tiếng tăm và cơ hội thăng chức nhưng tiền lương khá. Mátvây không từ chối việc gì, không tiếc thời gian làm việc nên có nguồn thu nhập chắc chắn. Anh đã mua được ôtô con và đang giành tiền mua biệt thự ở ngoại ô.

Đặc trưng của người này là giá trị tiền, của cải.

  1. Vaxily: không chú ý tính toán đến lương bổng và những tiện nghi sinh hoạt, được làm việc ở những nơi nào khó khăn nhất có lợi ích nhất và cần thiết nhất là thấy thích nhất, đẹp nhất, tự hào nhất. Vaxily và những đồng chí của mình đã cùng nhau vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Đặc trưng của người này là ham việc, tinh thần công tác cao.

  1. Nicolai: công việc của anh ta chẳng có gì là anh hùng và cũng chẳng hứa hẹn tăng thêm thu nhập công việc nhàn hạ, không có gì là đột xuất, vất vả song điều độ và bình lặng có một căn hộ riêng xinh xắn, trang trí bày biện đẹp mắt.

Đặc trưng của người này là an phận, bình lặng.

  1. Paven: sống quan tâm nhiều đến số phận của người khác, giúp đỡ nhiều khi người họ gặp khó khăn có lương tâm, tốt bụng ân cần, hồ hởi. Khi đấu tranh với những khuyết điểm của người khác có lúc vấp váp với một vài cán bộ lãnh đạo khiến cho anh ta chậm được đề bạt, tăng lương.

Đặc trưng của người này là đấu tranh cho chân lý, lẽ phải.

  1. Anđrây: còn trẻ nhưng đã nổi tiếng, ai cũng biết đến tên tuổi của anh ta. Anh ta thường xuyên xuất hiện trên báo chí, vô tuyến truyền hình. Anh ta không ham tiền, thích biểu hiện (khoe) tài năng của mình trước mọi người.

Đặc trưng của người này là ham tiếng tăm, danh vọng.

  1. Kirin: có công việc lý thú nên dồn hết sức mình vào đó, không có thời gian cho cuộc sống cá nhân và tiêu khiển; thích nghiên cứu một cách tự do, suy nghĩ độc đáo và táo bạo; ít người biết đến nhưng được thừa nhận là một chuyên gia cỡ lớn.

Đặc trưng của người này là thích sáng tạo, thích ứng với khoa học.

  1. Côngxtăngtin: không gắn bó với một nghề nghiệp nhất định nào, làm ăn thu nhập thất thường, có khi không còn đồng tiền nào. Côngxtăngtin tự đánh giá mình cao, có xu hướng thích đi lang thang, phiêu bạt nay đây mai đó có nhiều thời gian rảnh rỗi để tiêu khiển; thích đàn đúm “vui vẻ, trẻ trung”. Khi người ta hỏi bao giờ thì ổn định cuộc sống, anh ta trả lời rằng: “về già cũng chưa muộn”.

Đặc trưng của người này là ham chơi, không có chí hướng

Khi nghiên cứu hơn 200 người gồm có công nhân, sinh viên, nghiên cứu sinh nhân viên hàng không… thì được kết quả như sau:

  • Kiểu Paven là kiểu được đánh giá cao nhất, sau đó đến kiểu Vaxili, rồi đến Kirin – đến Vlađimir, bị lên án nhiều nhất là kiểu Côngxtăngtin, rồi đến Matvây, Nicôlai và Anđrây.

Thái độ đối với các kiểu nhân cách nêu trên ở Nam và Nữ có sự khác biệt.

  • Nữ thích kiểu Vaxili nhưng cũng kém cương quyết hơn trong việc phủ định và bác bỏ kiểu Mátvây.
  • Đặc biệt số nữ được nghiên cứu tỏ ra lo lắng thương hại số phận Paven và cần lưu ý một số phụ nữ tỏ ra không hiểu, không thông cảm với kiểu Kirin: không thể tưởng tượng được rằng có người quên gia đình, quên cuộc sống cá nhân: những mặt khác thì Vaxili vẫn được đánh giá cao nhất.

Kết luận: Nhìn chung đối với nữ, vấn đề gia đình và xây dựng quan hệ gia đình là vấn đề hết sức thiết yếu và điều đó không phải chỉ do nguyên nhân sinh vật mà chủ yếu do nguyên nhân xã hội.

Lòng yêu đời về cơ bản giữa nam và nữ không khác nhau nhưng nghiên cứu cho thấy tính năng động (kể cả việc mình tin rằng sẽ đạt được mục đích này), nữ thấp hơn nam tới gần 2 lần (vấn đề có tính chất lịch sử).

Các kiểu nhân cách này là ở Liên Xô trong những năm 1960 đặt ra cho ta suy nghĩ: Cần và nên nghiên cứu một số kiểu người hiện nay trong xã hội ta và nên tham khảo tài liệu của Nga nhưng phải nghiên cứu trên thực tế Việt Nam

Rate this post

Hanoi1000

Là một người sống hơn 30 năm ở Hà Nội. Blog được tạo ra để chia sẻ đến mọi người tất cả mọi thứ về Hà Nội. Hy vọng blog sẽ được nhiều bạn đọc đón nhận.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button