Tài liệu

Khoa học là gì? Ý nghĩa, Phân loại KH

Đối với một số người, khoa học liên quan đến các khóa học bậc cao đẳng hoặc đại học, chẳng hạn như vật lý, hóa học và sinh học – có nghĩa là chỉ dành cho các học sinh xuất sắc. Đối với những người khác, khoa học là một nghề do các nhà khoa học khoác áo trắng thực hiện bằng cách sử dụng thiết bị chuyên ngành trong các phòng thí nghiệm.

Khoa học là gì?

Theo từ nguyên, “khoa học” có nguồn gốc từ chữ Latin “scientia” có nghĩa là tri thức. Khoa học là hệ thống tri thức được tổ chức theo các lĩnh vực và đòi hỏi sử dụng “phương pháp khoa học” . Khoa học có thể được phân thành hai nhóm lớn: khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.

Khoa học được hiểu là hệ thống những tri thức về mọi loại qui luật của vật chất, qui luật về xã hội tư duy.

Khoa học được hiểu là một hệ thống tri thức về tự nhiên xã hội và tư duy về những qui luật phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy. Nó giải thích một cách đúng đắn nguồn gốc của những sự kiện ấy, phát hiện ra những mối liên hệ của các hiện tượng, vũ trang cho con người những tri thức về qui luật khách quan của thế giới hiện thực để con người áp dụng váo thực tiễn sản xuất và đời sống.

Khoa học còn được hiểu là một hoạt động xã hội nhằm tìm tòi, phát hiện qui luật, hiện tượng và vận dụng các qui luật ấy để sáng tạo ra nguyên lý các các giải pháp tác động vào các sự vật, hiện tượng, nhằm biến đổi trạng thái của chúng.

Ý nghĩa của khoa học

Người ta vẫn nói rằng KH là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội, làm cho con người ngày càng văn minh hơn, nhân ái hơn, sống tốt hơn và vững tin hơn vào chính bản thân mình trong cuộc sống. Cụ thể những nội dung đó là:

  • Con người hiểu được tự nhiên, nắm được các qui luật biến đổi, chuyển hóa của vật chất, chinh phục tự nhiên theo qui luật của nó.
  • Con người nắm được các qui luật vận động của chính xã hội mình đang sống và vận dụng chúng để thúc đẩy xã hội ấy phát triển nhanh chóng hơn.
  • Con người ngày càng có ý thức, càng thận trọng hơn trong việc nhận thức KH: không vội vã, không ngộ nhận, không chủ quan, tiến vững chắc đến chân lí của tự nhiên.
  • Khoa học chân chính chống lại những quan điểm sai trái (mê tín dị đoan, phân biệt chủng tộc…).
  • Khoa học làm giảm nhẹ lao động của con người, cải thiện chất lượng cuộc sống.

Sự hình thành và phát triển của bộ môn khoa học

Sự hình thành một bộ môn khoa học hay một khoa học mới đều xuất phát từ một tiên đề khoa học. Ví dụ từ tiên đề Eulide: “từ một điểm ngoài một đường thẳng trong cùng một mặt phẳng, người ta có thể vẽ được một đường thẳng song song với đường thẳng ấy và chỉ một mà thôi” đã dẫn đến một bộ môn khoa học hình học.

Hàng loạt bộ môn khoa học được hình thành dựa trên sự phát hiện mới về những qui luật tự nhiên và xã hội. Sự hình thành bộ môn khoa học mới có thể từ hai con đường, đó là sự phân lập các khoa học hay sự tích hợp các khoa học. ví dụ:

  • phân lập: triết học: logic, Xã hội học, khoa học giáo dục…
  • Tích hợp: Kinh tế học giáo dục…

Theo tác giả TS. Phạm Minh Hạc, Khoa học được phân thành 4 nhóm:

  • nhóm khoa học tự nhiên
  • nhóm khoa học xã hội
  • nhóm khoa học kỹ thuật
  • nhóm khoa học về tư duy

Tất cả các nhóm khoa học trên đều giao thoa với nhóm khoa học về con người.

Theo Vũ Cao Đàm, một khoa học được thừa nhân khi đáp ứng được các tiêu chí:

Tiêu chí 1. Có đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là bản thân sự vật hoặc hiên tượng được đặt trong phạm vi quan tâm của bộ môn khoa học. Một sự vật hay hiện tượng cũng có thể là đối tượng nghiên cứu của nhiều bộ môn khác nhau. Nhưng mỗi khoa học nghiên cứu trên một khía cạnh khác nhau. Ví dụ con người là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học, y học, xã hội học…

Tiêu chí 2. Có một hệ thống lý thuyết

Chỉ khi hình thành được một hệ thống lý thuyết, một bộ môn khoa học mới khẳng định được vị trí trong hệ thống các khoa học. hệ thống lý thuyết bao gồm những khái niệm, phạm trù, qui luật, định luật…

Tiêu chí 3. Có một hệ thống phương pháp nghiên luận nghiên cứu

Một bộ môn khoa học được đặc trưng bởi một hệ thống phương pháp luận: phương pháp luận riêng của khoa học đó và phương pháp luận thâm nhập từ các bộ môn khoa học khác.

Tiêu chí 4. có mục đích ứng dụng

Mỗi khoa học đều có những ứng dụng thực tiễn hay phục vụ cho sự hiểu biết nào đó.

Khoa học tự nhiên và khoa học xã hội

Khoa học tự nhiên

Khoa học tự nhiên là khoa học nghiên cứu các đối tượng hoặc hiện tượng tự nhiên, chẳng hạn như ánh sáng, vật chất, trái đất, các thiên thể hoặc cơ thể con người. Khoa học tự nhiên lại có thể được phân loại tiếp thành các khoa học vật chất, khoa học trái đất, khoa học sự sống và các khoa học khác. Khoa học vật chất bao gồm các bộ môn khoa học như

vật lý (khoa học của các đối tượng vật lý), hóa học (khoa học vật chất) và thiên văn học (khoa học của các đối tượng thiên thể). Khoa học trái đất bao gồm các bộ môn khoa học như địa chất học (khoa học của trái đất). Khoa học sự sống bao gồm các bộ môn như sinh học (khoa học của cơ thể con người) và thực vật học (khoa học của thực vật).

Khoa học xã hội

Khoa học xã hội là khoa học nghiên cứu con người hoặc cộng đồng người chẳng  hạn như các nhóm xã hội, doanh nghiệp, hiệp hội hoặc kinh tế và hành vi cá nhân, tập thể. Khoa học xã hội có thể được phân loại thành các bộ môn khoa học như tâm lý học (khoa học về hành vi con người), xã hội học (khoa học về các nhóm xã hội) và kinh tế học (khoa học của các doanh nghiệp, thị trường và kinh tế).

Sự khác biệt

Khoa học tự nhiên và khoa học xã hội có sự khác biệt trên một vài phương diện.

Khoa học tự nhiên đòi hỏi sự chính xác nghiêm ngặt, rõ ràng và không phụ thuộc vào người tiến hành các nghiên cứu khoa học. Ví dụ như trong vật lý học, thí nghiệm đo tốc độ lan truyền âm thanh qua một môi trường truyền dẫn hoặc đo chỉ số khúc xạ của nước, thì kết quả thí nghiệm thu được luôn giống nhau, không phân biệt thời gian hoặc địa điểm thí nghiệm hoặc người tiến hành thí nghiệm. Nếu hai sinh viên cùng làm một thí nghiệm vật lý mà nhận được hai giá trị có đặc tính vật lý khác nhau, thì có nghĩa là một hoặc cả hai sinh viên đó mắc lỗi.

Tuy nhiên, đối với khoa học xã hội thì không thể kết luận như vậy, bởi lẽ khoa học xã hội yêu cầu ít hơn về sự chính xác, cụ thể và rõ ràng. Ví dụ, nếu bạn đo lường mức độ hạnh phúc của một người bằng cách sử dụng công cụ giả thuyết, bạn có thể nhận ra rằng người đó cảm thấy hạnh phúc hay bất hạnh, buồn chán ở những ngày khác nhau và đôi khi ở những thời điểm khác nhau trong cùng ngày. Hạnh phúc của một người tùy thuộc vào thông tin người đó nhận được trong ngày hoặc các sự kiện diễn ra hôm trước. Hơn nữa, không có một công cụ hoặc chỉ số nào có thể đo lường chính xác hạnh phúc của một người. Vì thế trong cùng thời điểm, một công cụ này có thể xác định người này là “hạnh phúc hơn” thì một công cụ đo thứ hai có thể cho ra kết quả ngược lại rằng người đó “kém hạnh phúc”.

Nói cách khác, tồn tại mức độ khác biệt lớn về đo lường trong khoa học xã hội cũng như sự thiếu tin cậy và ít sự đồng thuận về các kết luận trong khoa học xã hội. Trong khi bạn sẽ không tìm thấy sự bất đồng giữa các nhà khoa học tự nhiên về tốc độ của ánh sáng hay tốc độ của trái đất quay xung quanh mặt trời, nhưng bạn sẽ nhận thấy sự khác biệt rất lớn giữa các nhà khoa học xã hội về cách giải quyết một vấn đề xã hội, như ngăn ngừa khủng bố quốc tế, vực dậy nền kinh tế khỏi sự suy thoái. Bất kỳ sinh viên nghiên cứu khoa học xã hội cũng phải nhận thức đầy đủ về sự lý giải còn mơ hồ, thiếu chắc chắn lẫn sai sót trong khoa học, phản ánh sự biến thiên cao của các khách thể nghiên cứu xã hội.

Phân loại dựa trên mục đích nghiên cứu

Khoa học cũng có thể được phân loại dựa trên mục đích nghiên cứu. Khoa học cơ bản (basic sciences) còn gọi là khoa học thuần tuý, là khoa học giải thích bản chất sự vật, các mối quan hệ tương tác và quy luật phổ biến của sự vật. Ví dụ như vật lý học, toán học và sinh học. Khoa học ứng dụng (applied sciences) còn được gọi là khoa học thực hành, là khoa học áp dụng tri thức từ khoa học cơ bản vào thực tế. Ví dụ, kỹ thuật là một khoa học ứng dụng các định luật vật lý và hóa học vào thực tiễn như xây dựng các cây cầu chịu được tải trọng lớn hơn hoặc chế tạo động cơ sử dụng nhiên liệu hiệu quả hơn; hoặc như y học là một khoa học ứng dụng các quy luật sinh học để chữa bệnh. Cả khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng đều là cần thiết cho sự phát triển của nhân loại. Tuy nhiên, khoa học ứng dụng không thể đứng riêng rẽ mà phải dựa vào khoa học cơ bản trong mỗi bước phát triển. Tất nhiên, các tập đoàn công nghiệp và doanh nghiệp tư nhân thường thiên về khoa học ứng dụng nhằm mang lại giá trị thực tế cho họ, trong khi đó, các trường đại học coi trọng cả khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng.

 

Rate this post

Hanoi1000

Là một người sống hơn 30 năm ở Hà Nội. Blog được tạo ra để chia sẻ đến mọi người tất cả mọi thứ về Hà Nội. Hy vọng blog sẽ được nhiều bạn đọc đón nhận.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button