Tài liệu

Cán cân thanh toán quốc tế (BOP) là gì? Các biện pháp điều chỉnh

Mỗi một quốc gia trên thế giới đều có những quan hệ về kinh tế, văn hoá, chính trị, quân sự, ngoại giao với nhiều quốc gia khác. Gắn với các quan hệ này là các dòng ngoại tệ chảy vào, chảy ra của từng quốc gia tức là phát sinh các khoản thu chi ngoại tệ. Để đánh giá tính hình thu chi quốc tế trong từng thời kỳ, người ta tập hợp ghi chép trên một biểu đặc biệt gọi là cán cân thanh toán quốc tế.

1. Khái niệm cán cân thanh toán

a. Khái niệm

Cán cân thanh toán quốc tế (Balance of Payment – BOP) là bảng cân đổi hay bảng đối chiếu giữa các khoản thu, chi bằng ngoại tệ của một nước với nước ngoài trong một thời kỳ hay tại một thời điểm nhất định.

Cán cân thanh toán phản ánh tất cả các ngoại tệ đã thu và đã chỉ của một nước với nước khác được gọi là cán cân thanh toán thời kỳ.

Cán cân thanh toán phản ánh những khoản ngoại tệ sẽ thu và sẽ chí của một nước với nước khác vào một thời điểm nhất định (vào ngày cuối tháng, cuối quí hoặc cuối năm – thường rơi vào ngày 31/12 hàng năm) được gọi là cán cân thanh toán thời điểm.

Cán cân thanh toán thời điểm có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì trạng thái bội thu hoặc bội chi của cán cân thời điểm sẽ quyết định tăng hoặc giảm dự trữ ngoại hối của các nước, đặc biệt khi cán cân thời điểm mà bị bội chi sẽ làm cho tỷ giá hối đoái biến động xấu.

Bản báo cáo năm là bản báo cáo chính thức đối với mỗi quốc gia. Điều này được luật các nước quy định và cũng là yêu cầu chính thức của IMF.

Người cư trú và người không cư trú bao gồm: các cá nhân, các gia đính, các công ty, các nhà chức trách và các tổ chức quốc tế.

Người cư trú phải hội tụ 2 điều kiện:

  • Thời hạn cư trú từ 12 tháng trở lên;
  • Có thu nhập từ quốc gia cư trú.

Những người không đủ 2 điều kiện trên đều trở thành người không cư trú. (Riêng đối với nước ta có thể đọc tham khảo Luật cư trú của Việt Nam trên trang web http://thuvienphapluat.vn)

Tuy nhiên cần chú ý:

  • “Quốc tịch” và “người cư trú” không nhất thiết phải trùng nhau.
  • Đối với các công ty đa quốc gia sẽ là người cư trú đồng thời tại nhiều quốc gia. Do đó để tránh trùng lắp thí chỉ các chi nhánh của công ty đa quốc gia đặt tại nước sở tại mới được coi là người cư trú.
  • Đối với các tổ chức quốc tế như IMF, WB, Liên hợp quốc…được xem như người không cư trú đối với mọi quốc gia.

Ví dụ: IMF đóng trụ sở tại Washington, nhưng những đóng góp vào IMF của chính phủ Mỹ vẫn được ghi chép trong BOP như khoản giao dịch với người không cư trú.

Các đại sứ quán, căn cứ quan sự nước ngoài, lưu học sinh, khách du lịch… không kể thời hạn cư trú là bao nhiêu đều là người không cư trú đối với nước đến và là người cư trú đối với nước đi.

Tiêu chì để đưa một giao dịch kinh tế vào BOP của một nước là giao dịch đó phải được tiến hành giữa người cư trú và người không cư trú. Mọi giao dịch kinh tế giữa những người cư trú với nhau của cùng một quốc gia không được phản ánh vào BOP.

Đồng tiền được sử dụng ghi chép trong BOP bao gồm:

  • Đối với những nước phát triển có đồng tiền tự do chuyển đổi thường sử dụng đồng nội tệ để hạch toán vào
  • Đối với những nước có đồng tiền không được tự do chuyển đổi hoặc biến động thường xuyên, thường sử dụng một đồng ngoại tệ tự do chuyển đổi phổ biến nhất để hạch toán vào

Ví dụ: Việt Nam sử dụng USD để hạch toán vào BOP.

Ngoài ra tùy theo mục đích sử dụng và phân tích mà người ta có thể lập BOP theo những đồng tiền khác nhau bằng cách quy đổi các hạng mục của BOP ra đồng tiền hạch toán theo tỷ giá chéo.

b. Vai trò

BOP có những vai trò sau:

– BOP là tấm gương phản ánh tổng hợp tính hình hoạt động kinh tế đối ngoại của một quốc gia, đồng thời nó cũng phản ánh tính hình kinh tế – xã hội của quốc gia qua cán cân thương mại, cán cân vốn, dự trữ ngoại tệ. Nó cho biết quốc gia là con nợ hay chủ nợ đối với phần còn lại của thế giới.

– BOP phản ánh mức độ mở cửa hội nhập của nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế thế giới và địa vị tài chính của quốc gia trên trường quốc tế.

– BOP phản ánh cung cầu ngoại tệ của một quốc gia, ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái, chính sách tỷ giá, chính sách tiền tệ quốc gia. Khi BOP thâm hụt, tỷ giá tăng, đồng nội tệ mất giá; Chính phủ có thể quyết định tăng lãi suất hoặc giảm chi tiêu công cộng nhằm giảm nhu cầu nhập khẩu, hoặc kiểm soát nhập khẩu hàng hóa, ngoại hối và chu chuyển vốn nhằm năng giá nội tệ, giữ ổn định tỷ giá.

2. Nội dung

Việc thiết lập cán cân thanh toán quốc tế theo mẫu do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund – IMF) soạn thảo, theo mẫu này ngân hàng trung ương các nước biên tập và công bố cán cân thanh toán quốc tế cho phù hợp với tập quán và hoàn cảnh cụ thể của nước mình trên cơ sở có sự giám sát của IMF.

Cán cân thanh toán quốc tế bao gồm hai hạng mục chủ yếu, đó là hạng mục thường xuyên (Current account) và hạng mục vốn (Capital account). Ngoài hai nội dung kinh tế chủ yếu này ra, cán căn thanh toán quốc tế còn một số nội dung khác cũng cần xem xét đó là: phát sinh do thống kê sai sót, nhầm lẫn và phần tài trợ.

2.1. Hạng mục thường xuyên

Hạng mục thường xuyên (gọi là cán cân vãng lai hay còn gọi là tài khoản vàng lại). Cán căn vàng lại phản ánh giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu; các khoản thu chỉ dịch vụ và các khoản chuyển giao một chiếu giữa một nước với các nước Cán cần vãng lai bao gồm các khoản mục sau

* Cán cần thương mại (Balance of Trade hay còn gọi là các khoản mục hữu hình: Cán cân thương mại phản ánh các khoản thu chí về xuất – nhập khẩu hàng hóa trong một thời kỳ nhất định. Khi xuất siêu (thu ngoại tệ do xuất khẩu lớn hơn chỉ ngoại tệ do nhập khẩu), căn cần thương mại của nước đổ bội thủ và ngược lại khi nhập siêu (thu ngoại tệ do xuất khẩu nhỏ hơn chỉ ngoại tệ do nhập khẩu), cán cân thương mại của nước đó bội chi. Cán cân thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn trong cán cân thanh toán quốc tế, nên sự bội thu hay bội chi của cán cân thương mại quyết định bội thu, bội chi của cán cân tổng thể.

* Cán cân dịch vụ (Balance of service) hay còn gọi là các khoản mục vô hình.

Cán cân dịch vụ phản ánh các khoản thu, chi ngoại tệ có liên quan đến việc cung cấp dịch vụ cho nước ngoài và các khoản dịch vụ nhận của nước ngoài, như dịch vụ vận tải, bảo hiểm, viễn thông, du lịch, du học, chuyên gia, v.v…

* Cán cân chuyển giao một chiều.

Cán cân chuyển giao một chiều bao gồm các khoản thu, chỉ mà không có sự bù đắp lại một cách tương ứng, như quà biểu tặng; giúp dỡ nhân đạo; chuyển ngân của kiều dân; các khoản viện trợ hoặc các khoản nhận viện trợ không hoàn lại; các khoản bồi thường hoặc nhận bồi thường và nhiều các khoản khác.

Những khoản phải trả đơn phương sẽ làm giảm thu nhập nội địa do phải thanh toán cho nước ngoài và do đó được ghi chép vào tài sản nợ. Khoản thu đơn phương sẽ làm tăng thu nhập nội địa do thu được từ nước ngoài và do đó được ghi chép vào tài sản có của cán cân chuyển giao một chiều.

2.2. Hạng mục vốn (hay còn gọi là cán cân tài khoản vốn hoặc cán cân di động tư bản)

Cán cân vốn dùng để theo dõi những di động về tiền tệ trong đầu tư và tín dụng giữa hai nước (nên còn gọi là cán cân di động tư bản – The capital account balance).

Cán cân vốn gồm hại khoản mục chính:

* Đầu tư trực tiếp: Theo dõi các khoản tiền đầu từ ra nước ngoài hoặc nhận đầu tư từ nước ngoài.

* Đầu tư gián tiếp: Theo dõi các khoản tiền vay từ nước ngoài hoặc cho nước ngoài vay, kể cả vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, khoản mục đầu tư gián tiếp còn có tên gọi là cán cân tín dụng.

Cán cân thanh toán quốc tế được kết cấu hai vế:

Bên tài sản có (Credit) theo dõi toàn bộ các khoản tiền thu được từ nước ngoài.

Bên tài sản nợ (Debit) theo dõi toàn bộ các khoản tiền phải chi trả cho nước ngoài.

Nếu như tổng tài sản có của cán cân vãng lai và cán cân tài khoản vốn lớn hơn tài sản nợ, cán cân thanh toán quốc tế có trạng thái dư thừa (Surpulus); ngược lại nếu như tổng tài sản nợ của cán cần vãng lai và cán cần tài khoản vốn lớn hơn tài sản có, cán cân thanh toán quốc tế có trạng thái dư thiếu (Deficit);

2.3. Lỗi và thống kê sai sót (Discrepancy)

Do sai lệch về thống kê, do nhầm lẫn hoặc không tập hợp được chính xác số liệu trong kỳ, nên phát sinh các lỗi và sai sót không thể tránh khỏi.

Cán cân tổng thể: Cán cân tổng thể là tổng hợp của các cán cân vãng lai, cán cân tài khoản vốn và sai lệch về thống kê cho phép.

2.4. Tài trợ

Hạng mục tài trợ phản ánh dự trữ ngoại hối của quốc gia tăng thêm hay giảm đi. Phần tài trợ được tổng hợp trên cơ sở: thay đổi trong tài sản có ngoại tệ ròng; thay đổi về nợ quá hạn và các nguồn tài trợ khác.

* Tài sản có ngoại tệ rồng phần chênh lệch giữa tài sản có ngoại tệ và tài sản nợ ngoại tệ thể hiện trên bảng cân đối thống kê tiền tệ tổng hợp của các ngân hàng thương mại và ngân hàng trung ương. Những thay đổi trong tài sản có ngoại tệ rồng là sự tăng hoặc giảm tài sản có ngoại tệ rừng của đầu kỳ và cuối kỳ báo cáo.

* Những thay đổi về nợ quá hạn phản ánh khoản nợ nước ngoài mà đến hạn nhưng chưa trả được có thể được cơ cấu lại.

* Các nguồn tài trợ khác phát sinh trong kỳ.

3. Trạng thái của cán cân thanh toán quốc tế

Cán cân thanh toán quốc tế của một nước phản ánh kết quả kinh tế cuối cùng của hoạt động trao đổi đối ngoại của một nước với nước ngoài.

Cán cân thanh toán quốc tế thường rơi vào một trong hai trạng thái:

– Trạng thái bội thu hay còn gọi là cán cân thanh toán quốc tế thặng dư khi tổng thu ngoại tệ lớn hơn tổng chi ngoại tệ, nước bội thu cán cân thanh toán quốc tế là chủ nợ của nước ngoài và có quyền thu vàng hoặc ngoại tệ mạnh do các nước con nợ phải chi trả, kết quả là dự trữ vàng và ngoại tệ mạnh gia tăng.

– Trạng thái bội chi hay còn gọi là cán cân thanh toán quốc tế dư thiếu khi tổng thu ngoại tệ nhỏ hơn tổng chi ngoại tệ, nước bội chi cán cân thanh toán quốc tế là con nợ của nước bội thu nên phải xuất vàng hoặc ngoại tệ mạnh chi trả cho nước chủ nợ, kết quả là dự trữ vàng bị giảm sút làm cho tỷ giá hối đoái biến động.

Như vậy cán cân thanh toán quốc tế được coi là một trong những tài liệu quan trọng nhất đối với các nhà hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô.

Trạng thái của cán cân thanh toán quốc tế tốt hay xấu đều có thể ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá hối đoái, từ đó tạo ra những thuận lợi hoặc gây ra những khó khăn cho phát triển kinh tế đất nước. Mặt khác, trạng thái của cán cân là những tiêu thức để các nhà hoạch định chính sách thay đổi nội dung chính sách kinh tế – tài chính cho phù hợp thực tế.

Khi cán cân thanh toán quốc tế bị thâm hụt, Chính phủ điều hành bằng chính sách lãi suất tăng hoặc cắt bớt các khoản chi tiêu công cộng để giảm chi phí về nhập khẩu. Khi cán cân thanh toán quốc tế bội thu, Chính phủ sẽ điều hành ngược lại với cách điều hành trên đây.

Mặt khác, các quốc gia dựa vào trạng thái của cán cân thanh toán quốc tế để dự báo chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và có những quyết sách thích hợp cho từng thời kỳ cụ thể.

4. Biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế

Giữ cho cán cân thanh toán quốc tế được cân đối được xem là một trong những mục tiêu quan trọng trong chính sách kinh tế một quốc gia. Khi cán cân thanh toán bội thu hoặc bội chi, các nước thường áp dụng các biện pháp để điều chỉnh nhằm giảm bội chi phấn đấu cân bằng hoặc bội thu cán cân thanh toán quốc tế. Các biện pháp thường áp dụng như:

– Điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu: Ngân hàng trung ương điều chỉnh tăng lãi suất tái chiết khấu khi lãi suất của các nước trong khu vực vẫn giữ nguyên, sẽ thu hút được lượng ngoại tệ lớn ở trong nước và ngoài nước vào ngân hàng, quan hệ cung cầu về ngoại tệ sẽ được cải thiện. Mặt khác khi cần thiết ngân hàng trung ương hạ lãi suất tái chiết khấu sẽ mở rộng quan hệ tín dụng giữa ngân hàng trung ương với các ngân hàng thương mại, góp phần mở rộng quan hệ tín dụng giữa ngân hàng thương mại với các doanh nghiệp, từ đó sẽ có tác dụng mở rộng đầu từ, tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài, tăng thu ngoại tệ.

– Chính sách hối đoái: Chính phủ điều chỉnh tỷ giá hối đoái bằng cách công bố phá giá hoặc nâng giá ngoại tệ để khuyến khích hoặc hạn chế xuất, nhập khẩu hàng hóa, đồng thời khuyến khích ngoại hối di chuyển giữa các quốc gia.

– Đầu tư tư bản ra nước ngoài hoặc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nhằm cải thiện cán cân di động tư bản.

– Thực hiện chính sách tín dụng quốc tế hợp lý.

– Thực hiện chính sách quản lý ngoại hối kinh hoạt.

– Sử dụng quyền rút vốn đặc biệt (SDR) tại Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).

(Nguồn tài liệu: TS. Lê Thị Mận, Lý thuyết Tài chính Tiền tệ)

Rate this post

Hanoi1000

Là một người sống hơn 30 năm ở Hà Nội. Blog được tạo ra để chia sẻ đến mọi người tất cả mọi thứ về Hà Nội. Hy vọng blog sẽ được nhiều bạn đọc đón nhận.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button